phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động đào tạo liên kết quốc tế trình độ Thạc sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo liên kết quốc tế trình độ Thạc si ̃ tại Khoa Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo liên kết quốc tế trình độ Thạc si ̃ tại Khoa Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO LIÊN KẾT QUỐC TẾ TRÌNH ĐỘ THẠC SĨ TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.
Tổ ng quan nghiên cƣ́u vấ n đề Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và có những bƣớc nhảy vọt của nền kinh tế thế giới trong 3-4 thập niên gần đây, nền giáo dục ở nhiều quốc gia đang đứng trƣớc những thách thức và áp lực to lớn: Thứ nhất là do thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao để tạo nên sự cất cánh cho nền kinh tế, trong khi khoa học - công nghệ đang đóng vai trò ngày càng tăng trong nền sản xuất hiện đại. Thứ hai là nhu cầu học tập và nâng cao trình độ kiến thức của mọi tầng lớp nhân dân ngày cảng tăng cũng tạo nên một áp lƣ̣c mạnh mẽ. Khi nền kinh tế phát triển, mức sống đƣợc nâng cao, thì nhu cầu học tập để mở rộng hiểu biết của ngƣời dân ngày càng tăng. Trong thời đại ngày nay, kiến thức của nhân loại thay đổi từng ngày và cơ hội kiếm việc làm, cơ hội mƣu sinh không tách rời cơ hội đƣợc đào tạo để nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để có thể chuyển đổi công việc khi cần thiết.
Hiện nay luận điểm “Giáo dục cho mọi ngƣời - mọi ngƣời cho giáo dục” và “Học suốt đời” với 4 trụ cột giáo dục “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm ngƣời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục, đào tạo của nhiều nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Để đáp ứng nhu cầu học tập của mọi công dân, nhà nƣớc ta đã mở rộng các phƣơng thức đào tạo chính quy và không chính quy, trong đó có hình thức tổ chức liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài với nhau đang rất phát triển. Vấn đề đa dạng hóa phƣơng thức 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đào tạo đã đƣợc các nhà khoa học, các nhà quản lý ở các trƣờng đại học, các viện nghiên cứu giáo dục chú ý quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực chiến lƣợc phát triển giáo dục và các phƣơng thức đào tạo đƣợc công bố, cụ thể nhƣ sau: “Chiến lƣợc phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục 2002.
“Cơ sở lý luận - thực tiễn và chính sách quốc gia quản lý nhà nƣớc về giáo dục” Viện nghiên cứu phát triển giáo dục 2003. Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học giáo dục bàn về quản lý chất lƣợng giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới giáo dục đại học, mối quan hệ giữa quy mô, chất lƣợng và hiệu quả đào tạo trong phát triển giáo dục ở nƣớc ta… Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý các hoạt động liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo với nƣớc ngoài hiện nay chƣa đƣợc chú ý thích đáng. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động liên kết đào tạo chủ yếu là dừng ở các bài báo hoặc các tham luận hội thảo, do vậy vấn đề này cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu toàn diện trên các bình diện khác nhau. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 1.
Khái niệm Quản lý Trong bất kỳ một thể chế xã hội nào cũng cần có sự quản lý. Chính vì vậy mà những khái niệm về quản lý đã có từ rất lâu. Trong quá trình phân tích và ứng dụng ngƣời ta đã hiểu quản lý theo nhiều cách, dẫn đến việc đƣa ra những định nghĩa khác nhau. Quản lý là một hệ thống xã hội tác động có mục đích đến tập thể ngƣời - thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến.
Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. Nhiều khái niệm về quản lý đã có từ những năm 5000 trƣớc công 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ năm 605-562 trƣớc công nguyên ở một số nƣớc đã biết sử dụng luật và các quy định để quản lý; biết sử dụng kiểm kê, đánh giá và áp dụng khoán trong quản lý. Trung Hoa cổ đại có nhiều đóng góp trong việc tổng kết và lý luận hóa thực tế quản lý.
Loài ngƣời đã, đang và sẽ đánh giá cao và không ngừng áp dụng lý thuyết của các trƣờng phái quản lý mà đại diện là Khổng Tử, Mạnh Tử; trong đó có trƣờng phái quản lý dựa trên cơ sở pháp luật mà đại diện là Hàn Phi. Nhà lý luận quản lý kinh tế ngƣời Pháp H. Fayon (1849-1925) là cha đẻ của thuyết hành chính trong quản lý đã đƣa ra định nghĩa “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Một số nhà nghiên cứu muốn phản ánh những nét đặc trƣng của quản lý bằng nhiều cách nhƣ nhấn mạnh tính chất hay hình thức tác động, mục đích hay chức năng của quản lý đã đƣa ra các định nghĩa sau: Theo sự phân tích của Marx thì quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó luôn gắn chặt với sự phân công và phối hợp.
Song điều đó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở tổ chức vì: “Chức năng chủ yếu của quản lý là liên hợp, tháp hợp tất cả các mặt hoạt động của tổ chức và của những ngƣời tham gia tổ chức đó là một chính thể” Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà ngƣời quản lý mong muốn” [23, tr. Tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm đã đƣa ra định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động” [9, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Đại Bách Khoa toàn thƣ Liên Xô: “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chƣơng trình, mục đích hoạt động” [17, tr.
Một số định nghĩa khác cũng đƣợc lƣu ý nhƣ: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [25, tr. “Quản lý tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tƣợng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, xã hội…bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng” [13, tr. “Quản lý là tác động có định hƣớng, có mục đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục đích của tổ chức” [10, tr. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể nói rằng Quản lý là một quá trình mang tính xã hội, xuất hiện cùng với sự hợp tác và phân công lao động, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bởi vì trong mỗi lĩnh vực con người luôn điều chỉnh hoạt động của mình theo một phương thức nhất định.
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hƣớng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phƣơng pháp hoạt động cụ thể. Quản lý mang tính nghệ thuật vì nó đƣợc vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội. Tính khoa học: Tính khoa học của quản lý đòi hỏi các nhà quản lý trƣớc hết phải nắm vững những quy luật liên quan đến quá trình hoạt động của tổ chức, đó không chỉ là những quy luật kinh tế mà còn là hàng loạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những quy luật khác, nắm quy luật thực chất là nắm vững hệ thống lý luận về quản lý.
Tính khoa học của quản lý còn đòi hỏi các nhà quản lý phải biết vận dụng các phƣơng pháp đo lƣờng, định lƣợng hiện tại, những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Để nắm đƣợc và thực hiện đƣợc tính khoa học của quản lý, trƣớc hết phải biết tiếp cận khoa học thật rõ ràng với các khái niệm, tức là những từ và những thuật ngữ chính xác, thích hợp với những sự việc đem phân tích và đầy đủ các thông tin có đƣợc. Trên cơ sở này, nội dung phƣơng pháp khoa học là xác định các sự việc thông qua quan sát các sự kiện mà xác nhận các sự việc này thông qua quan sát trực tiếp. Sau khi phân loại và phân tích các sự việc, các nhà quản lý tìm kiếm những mối liên hệ nhân quả mà họ tin là đúng.
Khi các khái quát hóa, hay là giả thuyết nêu ra đã đƣợc kiểm định về mức độ chính xác và dƣờng nhƣ đúng, phản ánh hoặc giải thích đƣợc thực tại và do đó có giá trị trong việc dự báo cái gì sẽ xảy ra trong những hoàn cảnh tƣơng tự thì chúng đƣợc gọi là nguyên tắc.