phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày th o 3 chương: ơ 1: ơ sở lý luận của quản lý hoạt độ đà tạo kỹ ă mềm tại các công ty trách nhiệm hữu hạn có chứ ă đà tạo, bồi ỡng ơ 2: T ực trạng đà tạo và quản lý hoạt độ đà tạo kỹ ă mềm tại công ty trách nhiệm hữu hạn Tâm Việt ơ 3: B ện pháp quản lý hoạt động đà tạo kỹ ă mềm tại công ty trách nhiệm hữu hạn Tâm Việt đáp ứng nhu cầu ih c 5 HƯƠNG 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO KỸ NĂNG MỀM TẠI CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN CÓ CHỨ NĂNG ĐÀO TẠO, B ƯỠNG 1.1 Tổ qu ê ứu vấ đề 1.1 Quản lý, quản lý đào tạo 1.1 Khái niệm quản lý Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh giống như một cơ thể sống được liên kết hữu cơ th o một quy luật nhất định và mục tiêu cuối cùng của quản lý là bảo vệ lợi ch cho con người. Mọi giải pháp quản lý sẽ không có hiệu quả nếu không chú ý đến con người. Bản chất của quá trình quản lý bao gồm các thành tố: Lập kế hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo; Kiểm tra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và môi trường bên ngoài tác động vào quản lý bao gồm con người, nguyên vật liệu, máy, thiết bị, thời gian, thông tin, v.
Trong đó yếu tố con người là thành tố chủ yếu tác động lên các thành tố còn lại, sơ đồ dưới đây thể hiện rõ bản chất của quá trình quản lý. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: tác động có định hướng, có chủ đ ch của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đ ch của tổ chức. Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. 6 Lập kế hoạch Tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo Môi trường bên ngoài ơ đồ 1.1: Bản chất của quá trình quản lý Lập kế hoạch: Là xác định các mục tiêu chiến lược và các thời kỳ xây dựng các phương án tổ chức, triển khai thực hiện, tính toán cân đối các yếu tố vật chất; chọn giải pháp hợp lý; xác định bước đi cụ thể; hình dung tường tận quá trình diễn biến từ mục tiêu ch nh sách, đường lối đến thành hiện thực.
Tổ chức: Là quá trình sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc, con người để đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Với mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc tổ chức phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hiện có. Lãnh đạo: Là điều hành, điều khiển tác động, huy động và giúp đỡ các cán bộ dưới quyền thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Kiểm tra: Là hoạt động của người quản lý để kiểm tra các hoạt động của đơn vị về việc thực hiện các mục tiêu đặt ra để kịp thời điều chỉnh kế hoạch và các tác động của quản lý. Không kiểm tra là buông lỏng hoạt động quản lý, kiểm tra đi liền với đánh giá. Công tác kiểm tra phải thực hiện được 3 yếu tố chính: - Xây dựng chuẩn mục tiêu thực hiện; - Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn; - Nếu có sự chênh lệch thì cần nghiên cứu để điều chỉnh HĐ.2 Khái niệm quản lý giáo dục Khái niệm QLGD cũng có nhiều cách hiểu. Do giáo dục là một lĩnh vực hoạt động xã hội nên quản lý giáo dục được xem là quản lý xã hội.
Quản lý giáo dục luôn bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội, phát triển kinh tế trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia. QLGD chính là quá trình tác động có định hướng của nhà QLGD trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo. QLGD là hoạt động có ý thức của con người nhằm th o đuổi những mục đ ch của mình.
Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bày ở trên, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: chủ thể QLGD, khách thể QLGD, mục tiêu QLGD, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp QLGD) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) QLGD. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra. Nói chung, QLGD được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Nói một cách rõ ràng hơn, đầy đủ hơn, QLGD là hệ thống những tác động có mục đ ch, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân tr , đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.3 Kỹ năng mềm và đào tạo kỹ năng mềm Ở Việt Nam vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó khoa học giáo dục 8 có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà.
Thông thường, người ta chia kỹ năng sống thành 2 loại cơ bản: kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Kỹ năng cứng (gắn liền với trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn, đóng vai trò nền tảng). Kỹ năng mềm là khả năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng với cuộc sống. Kỹ năng sống và kỹ năng mềm không phải là hai thứ khác nhau, và càng không phải là hai thứ giống nhau, mà kỹ năng mềm chính là một phần của kỹ năng sống, hay kỹ năng sống bao gồm kỹ năng mềm và một số kỹ năng khác.
Kỹ năng: Là năng lực vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện một hành động nào đó sao cho có kết quả đúng với mục tiêu đã đặt ra. Kỹ năng th o từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn là "năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng". Trong từ điển Tâm lý học của A.Colman, "Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành". Như vậy, ta có thể hiểu Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định.
Các kỹ năng có thể là kỹ năng nghề nghiệp (các kỹ năng kỹ thuật cụ thể như hàn, tiện, đánh máy, lái xe, lãnh đạo, quản lý, giám sát…) và kỹ năng sống (các kỹ năng giao tiếp, ứng xử, tư duy, giải quyết xung đột, hợp tác, chia sẻ…). Mỗi người học nghề khác nhau thì có các kỹ năng khác nhau nhưng các kỹ năng sống là các kỹ năng cơ bản thì bất cứ ai làm nghề gì cũng cần phải có. Kỹ năng sống: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): "KNS là những kỹ năng mang 9 tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Th o Quĩ cứu trợ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF): "KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới.
Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng" [30, tr 113]. KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Như vậy có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng sống. Trong cuốn sách: Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học .Nxb Đại học quốc gia Hà Nội của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa- Trần Văn T nh- Vũ Phương Liên; Đã nêu khái niệm kỹ năng sống có tính chung nhất là: Kỹ năng sống chính là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Nói một cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [29, tr. Kỹ năng mềm: Chính là một phần của kỹ năng sống, KNM là những kỹ năng thuộc về t nh cách con người (thuộc xã hội-cảm xúc), là yếu tố cần thiết cho sự phát triển cá nhân, tham gia xẫ hội và thành công trong công việc.