phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý đào tạo Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động đào tạo và quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH ở Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH ở Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO 1. Khái niệm về quản lý 1. Các khái niệm quản lý Hoạt động quản lý (QL) đã xuất hiện rất sớm cùng với sự hình thành các cộng đồng ngƣời. Từ xa xƣa các nhà quản lý và các nhà tƣ tƣởng đã thấy rõ vai trò của nhân tố con ngƣời trong hoạt động quản lý.
Theo các nhà QL học “Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý… phải có ngƣời đứng đầu.” [8] Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời cũng là sản phẩm có tính lịch sử.Marx đã viết: “ Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó”. [30] Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con ngƣời. Quản lý đúng tức là con ngƣời đã nhận thức đƣợc quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt đƣợc những thành công to lớn.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con ngƣời muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Nhà triết học cổ đại Hy Lạp Socrate (460 – 399 TCN) đã từng chỉ ra rằng, những ngƣời biết cách sử dụng con ngƣời sẽ điều khiển công việc hoặc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cá nhân hoặc tập thể một cách sáng suốt, trong khi đó những ngƣời không biết làm nhƣ vậy, sẽ mắc phải sai lầm trong việc điều hành công việc. Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con ngƣời. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển.
Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau.W Taylor (1856-1915) là một trong những ngƣời đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trƣờng phái “quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản lý dƣới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua ngƣời khác và biết đƣợc một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Fayol (1886-1925) là ngƣời đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là ngƣời có tầm ảnh hƣởng to lớn trong lịch sử tƣ tƣởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dƣới góc độ quan hệ con ngƣời, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng: Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn đƣợc hoàn thành thông qua ngƣời khác. Barnarrd (1866-1961) tiếp cận quản lý từ góc độ của lý thuyết hệ thống, là đại biểu xuất sắc của lý thuyết quản lý tổ chức cho rằng: Quản lý không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn để duy trì và phát triển tổ chức. Điều quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức đó là sự sẵn sàng hợp tác, sự thừa nhận mục tiêu chung và khả năng thông tin.
Simon (1916) cho rằng ra quyết định là cốt lõi của quản lý. Mọi công việc của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý. Ra quyết định quản lý là chức năng cơ bản của mọi cấp trong tổ chức. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Stephan Robbins tác giả cuốn sách Organizational Behavior (Hành vi tổ chức) quan niệm: Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra.
Các nhà nghiên cứu về quản lý và QLGD nƣớc ta, các Giáo sƣ, các nhà tƣ tƣởng trong quá trình nghiên cứu của mình cũng đƣa ra các định nghĩa, các khái niệm về quản lý nhƣ sau: Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định, những mục tiêu này đặc trƣng cho trạng thái của một hệ thống mà ngƣời quản lý mong muốn” [29, tr.8] Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể ngƣời – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.15] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung.17] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là các tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [14, tr.9] Những tiếp cận và quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa dạng và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn về quản lý. Từ những luận điểm đã trình bày ở trên, có thể tổng hợp và rút ra định nghĩa về quản lý nhƣ sau: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Từ định nghĩa này, có thể thấy rằng: - Quản lý là biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, đó là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tƣợng quản lý. - Quản lý là tác động có ý thức - Quản lý là tác động bằng quyền lực - Quản lý là tác động theo quy trình - Quản lý là phối hợp các nguồn lực - Quản lý nhằm thực hiện mục tiêu chung Nhƣ vậy, quản lý là một hệ thống bao gồm những nhân tố cơ bản: chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý, mục tiêu quản lý, công cụ, phƣơng tiện quản lý, cách thức quản lý (có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình).
Những nhân tố đó có quan hệ và tác động lẫn nhau để hình thành nên quy luật và tính quy luật quản lý. Bản chất và các chức năng của quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của ngƣời quản lý đến đối tƣợng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý đã đề ra. Hoạt động quản lý dù ở lĩnh vực hoặc cấp độ nào cũng là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Vì vậy, tác động quản lý (mục tiêu, nội dung, phƣơng thức quản lý) có sự khác biệt so với các tác động của các hoạt động khác.
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Theo Stonner và Freemance trong tác phẩm “Management” thì:“Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả các khả năng, cách tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu mà tổ chức đã đề ra” Có nhiều tác giả đã phân loại chức năng quản lý thành 4 hoặc 5 loại, nhƣng về cơ bản vẫn gồm 4 chức năng sau: - Lập kế hoạch - Tổ chức - Lãnh đạo, chỉ đạo (điều khiển) - Kiểm tra a/ Lập kế hoạch: Là việc ra quyết định, bao gồm việc lựa chọn phƣơng hƣớng, đƣờng lối, hành động mà tổ chức nào đó và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức.
Lập kế hoạch là nền tảng của quản lý. Lập kế hoạch gồm 3 nội dung chủ yếu: - Xác định mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức - Xác định và đảm bảo (có tính chất chắc chắn) về các nguồn lực của tổ chức để nhằm đạt đƣợc mục tiêu - Quyết định những hoạt động cần thiết để đảm bảo đƣợc mục tiêu đề ra. Lập kế hoạch là biểu hiện bản chất hoạt động của con ngƣời. Nghĩa là trƣớc khi hoạt động, con ngƣời phải có ý thức về mục tiêu cần đạt đƣợc.
b/Tổ chức Là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tổ chức. Tổ chức bao gồm việc xác định một cơ cấu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định trƣớc.