Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Điện lực Chương 3: Một số biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học Điện lực CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học (VLVH) là một chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm nhanh chóng đào tạo được đội ngũ cán bộ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có trình độ đáp ứng nhu cầu của xã hội. Hình thức đào tạo này có từ năm 1960 của thế kỷ XX, đến nay vừa tròn nửa thế kỷ. Mặc dầu còn có một số điểm bất cập cần được khắc phục nhưng nhìn chung hình thức đào tạo này đã đạt được những thành tựu lớn, ngày càng khẳng định được chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Thứ nhất, cung cấp nguồn nhân lực được đào tạo nhằm đáp ứng cho sự phát triển nền kinh tế cùng với vai trò ngày càng tăng của khoa học – công nghệ trong phát triển kinh tế tạo nên nhu cầu lớn về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực, vượt xa giai đoạn trước đó. Thứ hai, nhu cầu được học tập, mở rộng kiến thức của đông đảo nhân dân. Kinh tế phát triển, mức sống được nâng cao thì nhu cầu về nâng cao dân trí, mở rộng hiểu biết của mọi người dân ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Hơn nữa, trong một thời đại mà kiến thức của nhân loại thay đổi từng ngày từng giờ và cơ hội tìm kiến việc làm, cơ hội mưu sinh không tách với cơ hội giáo dục – đào tạo thì nhu cầu được đào tạo, được trang bị và nâng cao kiến thức nghề nghiệp bùng nổ một cách hết sức đa dạng và phong phú.
Nguyên lý “Giáo dục cho mọi người - mọi người cho giáo dục” cũng như nguyên lý “Học suốt đời” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động Giáo dục – Đào tạo ở nước ta nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung theo 04 tiêu chí giáo dục được UNESCO khuyến cáo: “Học để biết, học để làm. học để chung sống và học để làm người”. Được sự chỉ đạo của Đảng, quan tâm của Nhà nước và sự nỗ lực của toàn ngành mà giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), Luật giáo dục 2005, báo cáo chính trị tại đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: phát triển giáo dục Việt Nam trong những năm tới đó là Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Theo luật giáo dục, đào tạo vừa làm vừa học là bao gồm: “Các chương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình xóa mù chữ và tiếp tục sau khi biết chữ; đào tạo bổ sung, tu nghiệp định kỳ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cập nhật kiến thức, kỹ năng; các chương trình để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa làm vừa học. Con người không phải lúc nào cũng sống bình yên với những kiến thức đã học trong cuộc đời, từ những đòi hỏi của cuộc sống, họ luôn có nhu cầu bổ sung kiến thức. Với các hình thức học tập khác nhau, học tập suốt đời có một vai trò rất quan trọng. Xây dựng một xã hội học tập là điều mà Chính phủ Việt Nam quan tâm và hướng tới.
Tuy nhiên, hình thức học tập vừa làm vừa học (không chính quy) này hiện nay đang bị xem nhẹ và nhiều người coi đó là “chiếu dưới” của học tập chính quy. Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đầu ra của sản phẩm tức là người học. Tại sao chất lượng của sinh viên hệ vừa làm vừa học lại kém hơn sinh viên hệ chính quy và biện pháp nào để thay đổi cách nhìn của mọi người đối với hình thức vừa làm vừa học? Câu hỏi này đã đươc nhiều nhà nghiên cứu có tâm huyết với nền giáo dục đề cập đến cũng như được nghiên cứu trong các luận văn tốt nghiệp, có thể kể đến như: - Một số biện pháp đổi mới quản lý công tác liên kết đào tạo tại chức ở trung tâm giáo dục thường xuyên Hải Phòng, Đỗ Văn Hạ, 2003. - Tổ chức hoạt động liên kết giữa khoa tại chức trường Đại học Bách khoa Hà Nội với các cơ sở đào tạo ngoài trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong bối cảnh hiện nay, Võ Khánh Can, 2006.
- Hoàn thiện quy trình Đào tạo cử nhân hệ Tại chức ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Luận văn Thạc sĩ khóa 2004-2006 của Phạm Trung Kiên – Học viện Báo chí và Tuyên truyền. - Thực trạng và một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức đào tạo hệ tại chức trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN, Hà Văn Lợi, 1999. Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ xin đề cập đến vấn đề quản lý đào tạo Đại học hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Điện lực. Đây là một vấn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đề chưa có tác giả nào nghiên cứu.
Từ những kết quả nghiên cứu về công tác quản lý đào tạo đã đạt được trong những năm qua, chúng ta có thể phân tích sâu hơn những cái được và chưa được trong công tác quản lý đào tạo cụ thể là hệ VLVH nhằm đề xuất những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo hệ VLVH của Trường Đại học Điện lực. Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý đào tạo 1. Quản lý Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, người ta xem quản lý như là một hoạt động khó khăn, phức tạp nhưng có ý nghĩa rất quan trọng của con người xét từ góc độ phát triển của mỗi tổ chức cơ quan đến một quốc gia hay toàn thế giới. Chung quanh khái niệm “quản lý”, các tác giả tiếp cận từ những góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều ý kiến đa dạng khác nhau.
Tuy vậy, những khái niệm đa dạng đó đều có một nét chung là tất cả đều mô tả, giải thích về bản chất, về lý luận và các kỹ thuật làm cơ sở cho hoạt động quản lý. - Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời cũng là sản phẩm có tính lịch sử. Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” - W.Tayor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- Mary Parker Follett khẳng định rằng, quản lý là một quá trình hoạt động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại [7, tr. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng, quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đặt, là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định. - Theo quan điểm triết học: quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó. - Theo quan điểm chính trị xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [10, tr.
7] - Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [23, tr. 43] - Theo giáo sư Hà Thế Ngữ, giáo sư Đặng Vũ Hoạt: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn. 17] Như vậy, tùy theo cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, người ta có thể nêu ra những khái niệm về quản lý khác nhau nhưng hiểu theo nghĩa chung nhất ta có thể định nghĩa như sau: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đinh.
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung. Bản chất đó có thể được thể hiện ở mô hình sau: Mô hình 1.1: Mô hình về quản lý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chủ thể Khách thể quản lý quản lý Mục tiêu quản lý Nội dung Công cụ, PP quản lý quản lý 1. Chức năng quản lý Từ những quan niệm chung về quản lý, chúng ta thấy quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.