Tổng quan nghiên cứu
Đào tạo đại học theo hình thức vừa làm vừa học tại Việt Nam đã trải qua hơn 50 năm phát triển kể từ năm 1960, đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa chủ trương xây dựng xã hội học tập và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tính đến tháng 4 năm 2011, Trường Đại học Điện lực trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý quy mô đào tạo lên tới 21.000 sinh viên và học viên các hệ, trong đó bậc đại học chính quy đạt 10.995 người. Đặc biệt, tính đến tháng 10 năm 2011, quy mô đào tạo hệ đại học vừa làm vừa học của trường đã thu hút 5.039 học viên theo học tại nhiều địa phương, riêng chuyên ngành Hệ thống điện chiếm tỷ trọng vượt trội với 3.670 sinh viên, tương đương 72,83% tổng quy mô toàn hệ.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng người học và việc mở rộng mạng lưới liên kết đào tạo tại các địa phương đã đặt ra nhiều thách thức đối với chất lượng đầu ra và năng lực quản lý quy trình đào tạo. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với mã số 60 14 05 của tác giả Tô Thị Phương Lan dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Khánh Đức tập trung phân tích thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Điện lực giai đoạn 2006-2011. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác lập hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ từ khâu tuyển sinh, tổ chức dạy học đến kiểm tra đánh giá và theo dõi sau đào tạo. Công trình có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao mức độ hài lòng của 100% cán bộ giảng viên và nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng chuyên môn lên trên 85%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở khoa học dựa trên hai hệ thống lý thuyết quản lý cốt lõi gồm: Lý thuyết 4 chức năng quản lý tổng quát và Mô hình quản lý quá trình đào tạo đại học. Thứ nhất, theo nghiên cứu của PGS. Trần Khánh Đức vào năm 2009, hoạt động quản lý vận hành tuần hoàn qua 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra, trong đó thông tin và quyết định quản lý đóng vai trò huyết mạch của toàn bộ chu trình. Thứ hai, mô hình hệ thống quản lý đào tạo của Nguyễn Đức Trí năm 2002 xác lập 4 thành tố tương tác hữu cơ gồm: Đầu vào (tuyển sinh, giảng viên, cơ sở vật chất), Quá trình đào tạo (hoạt động dạy và học, phát triển chương trình), Đầu ra (chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ) và Thị trường lao động (tỷ lệ việc làm, mức thu nhập, khả năng thích ứng).
Khung lý luận làm rõ 4 khái niệm trung tâm bao gồm: quản lý giáo dục, quản lý trường đại học, quá trình đào tạo và đào tạo vừa làm vừa học theo quy định tại Điều 44 Luật Giáo dục năm 2005 và Quyết định số 36/2007/QĐ-BGD&ĐT. Luận văn nhấn mạnh 3 nhiệm vụ đào tạo không thể tách rời: dạy người (hình thành thái độ), dạy nghề (cung cấp kiến thức) và dạy phương pháp (rèn luyện kỹ năng) nhằm bảo đảm chất lượng tương đương giữa hệ vừa làm vừa học và hệ đào tạo chính quy.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm thu thập dữ liệu toàn diện trong khoảng thời gian 5 năm từ năm 2006 đến năm 2011. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê quy mô 21.000 người học, hồ sơ quản lý của 253 giảng viên và các văn bản quy chế đào tạo ban hành theo Quyết định số 352/QĐ-ĐHĐL-TCCB của nhà trường.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tiễn với cỡ mẫu gồm 100 cán bộ quản lý và giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy hệ vừa làm vừa học tại cơ sở chính (235 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội) và cơ sở 2 (Sóc Sơn, Hà Nội). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các khoa chuyên môn kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý giáo dục nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cao. Tác giả lựa chọn phương pháp toán thống kê mô tả (tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm) để xử lý dữ liệu khảo sát vì công cụ này phản ánh khách quan thực trạng phân bổ đánh giá, từ đó chỉ ra chính xác các khâu hạn chế trong quy trình quản lý thực tế tại đơn vị.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát và phân tích thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Điện lực chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, cơ cấu ngành học có sự chênh lệch rất lớn. Trong tổng số 5.039 học viên vừa làm vừa học tính đến tháng 10 năm 2011, ngành Hệ thống điện chiếm vị trí áp đảo với 3.670 sinh viên (chiếm 72,83%), tiếp theo là ngành Nhiệt điện với 186 sinh viên (chiếm 3,69%), Quản trị kinh doanh với 78 sinh viên (chiếm 1,55%) và Công nghệ tự động với 44 sinh viên (chiếm 0,87%).
Thứ hai, tiềm lực đội ngũ giảng viên tương đối mạnh nhưng bộ máy quản lý trực tiếp còn mỏng. Toàn trường có 253 cán bộ giảng dạy, trong đó có 5 Phó Giáo sư, 31 Tiến sĩ (tỷ lệ 13,44%) và 121 Thạc sĩ (tỷ lệ 47,83%), giúp tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học đạt mức 69,2%. Tuy nhiên, Khoa Đào tạo tại chức chỉ có 4 nhân sự chuyên trách để điều phối và quản lý toàn bộ hồ sơ, kế hoạch học tập cho hơn 5.000 sinh viên.
Thứ ba, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng 81% nhu cầu nội trú với 1.136 giường tại ký túc xá, nhưng tỷ lệ phòng học và giảng đường được trang bị phương tiện nghe nhìn hiện đại mới chỉ đạt khoảng 20% (tỷ lệ 1/5).
Thứ tư, kết quả khảo sát 100 cán bộ quản lý và giảng viên về quy trình quản lý đào tạo ghi nhận: chỉ có 7% đánh giá rất tốt, 33% đánh giá tốt, 29% đánh giá bình thường, và có tới 31% đánh giá chưa tốt.
Thảo luận kết quả
Tỷ lệ 31% cán bộ giảng viên đánh giá quy trình quản lý chưa tốt phản ánh một điểm nghẽn lớn trong công tác theo dõi sau đào tạo và kiểm soát chất lượng tại các điểm lớp liên kết. Nguyên nhân chủ yếu là do khóa đại học vừa làm vừa học đầu tiên của trường mới chỉ có 28 sinh viên tốt nghiệp vào tháng 11 năm 2011, dẫn đến việc nhà trường chưa kịp thiết lập hệ thống thu thập thông tin phản hồi từ các đơn vị sử dụng lao động. Bên cạnh đó, việc mở rộng đào tạo tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh khiến tỷ lệ trúng tuyển có nơi đạt mức 90-95%, làm giảm chất lượng sàng lọc đầu vào và gây trở ngại cho việc duy trì nền nếp học tập.
Dữ liệu khảo sát trên có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn gồm 4 phần thể hiện cơ cấu đánh giá quy trình quản lý (7% Rất tốt, 33% Tốt, 29% Bình thường, 31% Chưa tốt) và bảng số liệu so sánh tương quan quy mô 3.670 sinh viên ngành Hệ thống điện với các chuyên ngành còn lại. So với các nghiên cứu cùng giai đoạn tại các trường đại học khác, công tác quản trị tại Đại học Điện lực chịu áp lực kép giữa việc bảo đảm khối lượng kiến thức thực hành kỹ thuật chuyên sâu và yêu cầu điều hành bộ máy với chỉ 4 cán bộ chuyên trách tại khoa quản lý đào tạo tại chức.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học:
- Hoàn thiện quy trình tuyển sinh và định hướng nghề nghiệp: Ban Giám hiệu chỉ đạo Phòng Đào tạo phối hợp với các công ty điện lực địa phương khảo sát chính xác nhu cầu nhân lực, siết chặt khâu coi thi và chấm thi nhằm nâng mức điểm chuẩn trúng tuyển tăng thêm 15% đến 20%, hoàn thành triển khai trong giai đoạn 2012-2013.
- Chuẩn hóa quy chế đào tạo và kiểm tra đánh giá: Khoa Đào tạo tại chức phối hợp với các khoa chuyên môn xây dựng ngân hàng đề thi chung cho 100% học phần, áp dụng cơ chế chấm thi hai vòng độc lập nhằm giảm thiểu tỷ lệ sai lệch kết quả đánh giá xuống dưới 1% trước năm 2014.
- Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy và học tập: Phòng Thanh tra - Khảo thí cùng đội ngũ giảng viên duy trì việc điểm danh, quản lý sổ đầu bài tại 100% lớp học vệ tinh, định kỳ tổ chức bồi dưỡng phương pháp sư phạm đại học cho 253 giảng viên theo chu kỳ 6 tháng/lần.
- Tối ưu hóa phối hợp liên kết và quản lý sau đào tạo: Trường Đại học Điện lực ký kết văn bản cam kết trách nhiệm cụ thể với 100% Trung tâm Giáo dục thường xuyên đối tác, đồng thời thành lập bộ phận chuyên trách tư vấn việc làm nhằm theo dõi và thống kê 100% sinh viên tốt nghiệp từ cuối năm 2012.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:
- Cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục đại học: Áp dụng mô hình phân cấp quản lý 3 cấp (Trường - Khoa - Bộ môn) để tinh gọn quy trình hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị với quy mô trên 5.000 người học hệ không chính quy.
- Giảng viên tham gia giảng dạy hệ vừa làm vừa học: Nắm bắt đặc điểm tâm lý và quỹ thời gian của học viên vừa đi làm để đổi mới phương pháp giảng dạy, chủ động nâng tỷ lệ ứng dụng thiết bị công nghệ nghe nhìn từ mức 20% hiện nay lên trên 50% số tiết giảng dạy.
- Lãnh đạo các đơn vị và trung tâm liên kết đào tạo địa phương: Sử dụng quy trình phối hợp 4 giai đoạn (tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm tra, theo dõi sau đào tạo) làm cơ sở xây dựng hợp đồng đào tạo và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phòng học đạt chuẩn cho hơn 80% học viên tại chỗ.
- Học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục: Khai thác khung lý luận 4 chức năng, bộ câu hỏi điều tra 100 mẫu và kỹ thuật phân tích toán thống kê làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thực chứng về đào tạo thường xuyên.
Câu hỏi thường gặp
-
Điểm khác biệt cơ bản giữa hệ đào tạo vừa làm vừa học và hệ chính quy tại trường là gì?
Hệ vừa làm vừa học tại trường dành cho công dân có bằng THPT và có ít nhất 12 tháng công tác, được tổ chức học ngoài giờ hoặc tập trung 2 kỳ/năm với thời gian đào tạo 4-5 năm. Theo Luật Giáo dục 2005, chương trình vẫn bảo đảm khối lượng kiến thức tương đương hệ chính quy cho 5.039 học viên đang theo học.
-
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên nhà trường hiện nay ra sao?
Theo số liệu thống kê năm 2010, trường có 253 cán bộ giảng dạy gồm 31 Tiến sĩ (tỷ lệ 13,44%) và 121 Thạc sĩ (tỷ lệ 47,83%), giúp tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học đạt 69,2%, bảo đảm 100% giảng viên đạt chuẩn đào tạo và được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm theo quy định.
-
Nguyên nhân khiến 31% cán bộ và giảng viên đánh giá quy trình quản lý chưa tốt là gì?
Khảo sát 100 cán bộ và giảng viên ghi nhận 31% ý kiến chưa tốt chủ yếu do công tác quản lý sau đào tạo chưa được thực hiện. Nguyên nhân trực tiếp là do khóa vừa làm vừa học đầu tiên mới chỉ có 28 sinh viên tốt nghiệp vào tháng 11 năm 2011 nên trường chưa kịp thu thập dữ liệu việc làm.
-
Chuyên ngành đào tạo nào chiếm quy mô sinh viên vừa làm vừa học lớn nhất?
Ngành Hệ thống điện chiếm tỷ trọng áp đảo với 3.670 sinh viên trong tổng số 5.039 học viên hệ vừa làm vừa học, tương đương khoảng 72,83%. Các ngành còn lại chiếm quy mô nhỏ hơn như Nhiệt điện có 186 sinh viên, Quản trị kinh doanh có 78 sinh viên và Công nghệ tự động có 44 sinh viên.
-
Luận văn đề xuất giải pháp nào để nâng cao chất lượng tuyển sinh tại các điểm lớp vệ tinh?
Luận văn kiến nghị Ban Giám hiệu phối hợp với các doanh nghiệp khảo sát chính xác nhu cầu nguồn nhân lực, chấm dứt tình trạng hạ điểm chuẩn để đạt tỷ lệ đỗ 90-95%, đồng thời đặt mục tiêu nâng mức điểm chuẩn đầu vào thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2012-2013 để chọn lọc người học thực chất.
Kết luận
- Đánh giá toàn diện thực trạng quản lý quy mô 5.039 sinh viên vừa làm vừa học và năng lực của 253 giảng viên tại Trường Đại học Điện lực.
- Nhận diện chính xác hạn chế quản lý khi có 31% cán bộ đánh giá quy trình chưa tốt do thiếu hụt hoạt động khảo sát sau đào tạo.
- Hệ thống hóa khung lý luận quản lý giáo dục dựa trên mô hình 4 chức năng quản trị và 4 thành tố của quá trình đào tạo đại học.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng tỷ lệ phòng học có thiết bị nghe nhìn từ mức 20% lên trên 50% số lượng phòng học.
- Xác lập lộ trình hành động giai đoạn 2012-2014 nhằm nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn và đạt chuẩn chuyên môn lên trên 85%.
Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp nhà trường chuẩn hóa quy trình liên kết đào tạo với các địa phương. Lãnh đạo các trường đại học kỹ thuật và các đơn vị liên kết hãy áp dụng ngay bộ giải pháp quản lý này trong năm học 2012-2013 để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành điện lực.