phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung được chia làm 03 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học thực hành nghề trong các trường cao đẳng nghề. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý dạy học thực hành nghề tại Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý dạy học thực hành nghề tại Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Vĩnh Phúc. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC THỰC HÀNH NGHỀ TRONG CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1.
Tổng quát về hệ thống giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam 1. Trên thế giới Từ cuối thế kỷ XIV, khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện vấn đề về dạy học và quản lí dạy học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nổi bật nhất là Cômenxki (1592 -1670) - ông tổ của nền giáo dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo là nghề rất vinh dự “Dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quí hơn ” [30, tr70]. Ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến nay hệ thống lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại. Vào cuối thế kỷ XVII có những nhà nghiên cứu về quản lí tiêu biểu như Rober Owen (1771- 1858), F.Tay Lo (1856 - 1915) người được coi là “Cha đẻ của Thuyết quản lí theo khoa học ”.
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lí: Tính khoa học và Nghệ thuật quản lí, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển. Trong lĩnh vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và về chất. Đối với dạy nghề hay giáo dục nghề nghiệp, trên thế giới ở mỗi quốc gia có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ văn minh khác nhau mà hệ thống giáo dục dạy nghề cũng khác nhau. Nhưng hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạch hệ phổ thông và trung học.
Hoa Kỳ đào tạo công nhân được tiến hành trong các trường THPT phân ban, các trường dạy nghề trung học, các cơ sở đào tạo sau trung học. Tốt nghiệp đuợc cấp bằng và chứng chỉ công nhân lành nghề. Thời gian đào tạo từ 2-7 năm tuỳ theo từng nghề. Ở CHLB Đức có hệ thống đào tạo nghề và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TCCN và bậc sau trung học.
Liên Xô đào tạo rất đa dạng, bao gồm hệ thống trường dạy nghề cạnh xí nghiệp và đào tạo tại xí nghiệp. Với thời gian đào tạo khác nhau: Bậc 3 và 4 là 2 năm; bậc 4 và 5 là 2 năm rưỡi; Bậc 5 và 6 là 3 năm; công nhân lành nghề bậc cao là 3 đến 4 năm. Ở Việt Nam Hệ thống dạy nghề Việt Nam chính thức ra đời vào năm 1960 với tên: “Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật” do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội quản lý, đến năm 1978 tách Tổng cục này ra khỏi Bộ LĐ-TB&XH đổi tên thành Tổng cục Dạy nghề và trực thuộc Chính phủ. Năm 1985 Tổng cục Dạy nghề sát nhập vào Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề, năm 1998 Tổng cục Dạy nghề lại được tái lập nhưng trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH [25].
Trong quá trình ra đời và phát triển hệ thống dạy nghề ở Việt Nam có những bước thăng trầm rất khác nhau. Thời kỳ được đánh giá cao nhất chính là giai đoạn hệ thống dạy nghề chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Chính phủ. Trước khi hệ thống dạy nghề được giao cho Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề quản lý có tất cả 269 trường, nhưng đến khi giao lại cho Bộ LĐ-TB&XH quản lý (năm 1998) thì hệ thống dạy nghề chỉ còn lại 192 trường (theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đào tạo nghề 1996-2000 và kế hoạch đào tạo nghề 2001-2005 Tổng cục dạy nghề) [25]. Tính đến 29/12/2011 có 160 trường cao đẳng nghề, 308 trường trung cấp nghề và 908 trung tâm dạy nghề (số liệu tổng cục Thống kê).
Điều 32 Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp phổ thông trung học và dạy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Qua phân tích đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành do yêu cầu của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị trường lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên, trung cấp và công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao, năng lực hành nghề thể hiện ở các kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc được đào tạo trong các cơ sở đào tạo. Hình thức đào tạo nghề nghiệp phong phú và đa dạng: đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn; đào tạo chính quy và đào tạo không chính quy; đào tạo tại các trường hay các trung tâm dạy nghề.
Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo. Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động. Đó cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý nhà trường và Quản lý dạy học 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau, thực tế đã có nhiều cách diễn đạt về khái niệm quản lý: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Taylor, người được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học đã cho rằng cốt lõi trong quản lý là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đểu phải chuyên môn hóa và phải quản lý chặt chẽ”.
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”. [10] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích, của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hay rõ hơn thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.9] Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đặt được mục tiêu chung”.17] Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, vv. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách các nguyên tắc, phương pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho phát triển của đối tượng”.7-10] Trong các diễn đạt về khái niệm QL trên đây, đều cho thấy những điểm chung như sau: - Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động xã hội loài người.
Lao động QL là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. - Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người QL và người bị QL, họ giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý. Về bản chất của hoạt động QL là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục đích chung.
Bản chất đó có thể được thể hiện ở Sơ đồ 1.1 dưới đây: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHỦ THỂ KHÁCH THỂ QUẢN LÝ QUẢN LÝ MỤC TIÊU QUẢN LÝ Nội dung quản Công cụ, lý phƣơng pháp quản lý Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý Theo sơ đồ về QL trên, có thể lý giải như sau: Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con người, giữa những nhóm người,. Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý như: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách, v. Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể quản lý.
Nội dung quản lý là một công việc, nhiệm vụ cần thực hiện. Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, nó có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý. Với quan điểm tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các nhân tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt mục tiêu đã định.