Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU DOANH NGHIỆP 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cùng với các lĩnh vực quản lý khác, quản lý giáo dục nói chung và quản lý đào tạo nghề nói riêng luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là trong nhận thức sâu sắc vai trò của hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống đào tạo nghề nói riêng. Nhà giáo dục người Nga TraKhôan V.E khẳng định: “Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước Xã hội chủ nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa dạy trong trường với thực tập sản xuất trong xí nghiệp” và nhấn mạnh “Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động sản xuất thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo công nhân lành nghề được” [29].
Ở Cộng hoà Pháp: Vào giữa thế kỷ IXX (năm 1849), xuất hiện nhiều cuốn sách mang nội dung đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp. Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy rằng hệ thống nghề nghiệp đã rất phức tạp, sự chuyên môn hóa vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp. Trên cơ sở đó, nội dung cuốn sách đã khẳng định tính cấp thiết phải hướng, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và của xã hội. Ở Cộng hòa Liên bang Đức: Vấn đề đào tạo nghề nghiệp đã được nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy nghề của Cộng hòa Liên bang Đức.
Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề nghiệp, tạo điều kiện cho sinh viên - sinh viên phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động - xã hội. Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục”. Theo tác giả vấn đề học nghề của sinh viên, sinh viên là một căn bản không thể thiếu được, đồng thời đã tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu về vấn đề “gắn đào tạo với sử dụng” trong đào tạo nghề. Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba trong một” - Đào tạo, sản xuất, dịch vụ.
Trong vấn đề đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, các trường dạy nghề luôn gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ, góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Ở Inđônêxia, để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003, APEC năm 2002, hệ thống đào tạo nghề được nghiên cứu phát triển mạnh.Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa trường và doanh nghiệp, cơ sở sản xuất được quan tâm đặc biệt. Mô hình kết hợp đào tạo nghề được Bộ văn hoá và Giáo dục bắt đầu đề xuất năm 1993 có tên gọi là Pendidican Sistem Ganda - Hệ thống đào tạo song hành được thực hiện bởi trường dạy nghề và các bên tham gia đào tạo đại diện cho giới việc làm. Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, những năm gần đây khoa học giáo dục đã tiếp cận nhiều đến vấn đề đào tạo nghề ở các khía cạnh khác nhau.
Phạm Tất Dong, trong công trình khoa học của mình, đã điều tra: "Trong những người không kiếm ra việc làm, có 85,8% là thanh niên trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm, có 67,4% là không biết nghề". Trên cơ sở đó, tác giả xác định: cần "Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để họ tự tìm ra việc làm", đồng thời "Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho sinh viên,. đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản". Trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX- 05-09 đề tài đề cập đến nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH đất nước PGS.
Nguyễn Văn Lê cho rằng: "Nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH đất nước là vấn đề có ý nghĩa chiến lược". Cũng trong đề tài khoa học này, GS. Nguyễn Quang Uẩn đã nêu: "Phát triển con người thực chất là mở rộng và phát huy những tiềm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng, năng lực của con người trong hoạt động, đó là quá trình gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, trí tuệ, đạo đức, thể chất, vật chất, hay nói khác đi là quá trình phát triển trí tuệ, đạo đức nhân cách và tay nghề. Có thể nói, các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước rất có giá trị về mặt phương pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện viết đề tài luận văn của tác giả.
Từ những phân tích trên rút ra những nhận xét sau: Các công trình khoa học ở trong và ngoài nước đều quan tâm đến công tác đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề, mục đích là để tạo cho con người dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Cho đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, bài báo viết liên quan hoặc đề cập đến công tác quản lý đào tạo nghề, điển hình là: - Đề tài nghiên cứu: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và tại cơ sở sản xuất”; - Đề tài nghiên cứu khoa học: “Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội” - Đề tài “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nguồn nhân lực theo ISO và TQM ”, của tác giả Trần Khánh Đức; - Một số bài báo khoa học đăng trên các tạp chí của các nhà nghiên cứu giáo dục như GS.TS Nguyễn Minh Đường, PGS. Nguyễn Viết Sự, GS. Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính phổ quát đó, trong những năm gần đây có nhiều luận văn thạc sĩ đã đề cập đến những vấn đề cụ thể trong công tác quản lý đào tạo và quản lý đào tạo nghề, các luận văn thạc sĩ điển hình như: - “Một số biện pháp quản lý công tác đào tạo tại trường Dạy nghề tỉnh Quảng Nam”, của tác giả Trần Minh Tú, Hà Nội - 2006 - “Hoàn thiện và đổi mới một số biện pháp quản lý đào tạo nghề của tr- ường Trung cấp công nghiệp Hải Phòng trong giai hiện nay” của tác giả Ngô Ngọc Bối.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - “ Một số giải pháp quản lý đào tạo nghề ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET” của tác giả Trịnh Thị Giang. - “Quản lí quá trình đào tạo của Hiệu trưởng trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn. - “Quản lý đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội” của tác giả Khổng Hữu Lực. Ngoài ra, cũng còn rất nhiều luận văn đề cập nghiên cứu nhiều khía cạnh của quản lý công tác quản lý đào tạo nghề.
Hầu hết các tác giả đã đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc những thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của hiệu trưởng, của nhà trường ở từng địa phương, đồng thời đề ra một số biện pháp quản lý hợp lý nhằm giải quyết những vướng mắc ở từng cơ sở giáo dục đào tạo cụ thể. Tuy nhiên, những biện pháp mà các tác giả đã nêu trong các luận văn không hoàn toàn là những biện pháp quản lý đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp mà trường Cao đẳng nghề Công nghệ Cao Hà Nội có thể áp dụng được. Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm quản lý Bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con người đều cần đến công việc quản lý, bởi mọi nhà quản lý ở các cấp độ nhà trong các cơ sở đều có nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ và các mục tiêu đã định. Nói cách khác, các nhà quản lý có trách nhiệm duy trì hoạt động làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất vào các mục tiêu của nhóm.
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhất cũng cần đến một chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì phải cần có nhạc trưởng”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm quản lý có nhiều định nghĩa khác nhau dựa trên nhiều cách tiếp cận về quản lý. Theo từ điển tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Theo giáo trình quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Hà Thế Truyền và Nguyễn Trọng Hậu: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ thể (ngườì quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Trong giáo trình Khoa học quản lý (tập 1, Nxb Khoa học kĩ thuật, Hà Nội, 1999) khái niệm về quản lý: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác”; “Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức”; “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm”.