Chương 1: Tổng quan về quản lý cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế đường biển của Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ XNK TG Việt Nam Chương 2: Cơ sở lý luận của dịch vụ vận tải quốc tế đường biển Chương 3: Thực trạng quản lý cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ XNK TG Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ XNK TG Việt Nam 17 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 2. Khái quát về dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển 2. Khái niệm của dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển 2.
Khái niệm dịch vụ vận tải quốc tế Vận tải hàng hóa là khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực tổ chức và phạm vi khác nhau. Xêp trên góc độ vĩ mô vận chuyển hay còn gọi là vận tải là một ngành kinh tế cung cấp năng lực di chuyển hàng hóa, đây là một ngành kinh tế quan trọng ở tất cả các quốc gia đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Ở góc độ vi mô, vận chuyển có thể tồn tại trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Tại các doanh nghiệp vận tải thì vận chuyển là sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho thị trường bao gồm dịch vụ vận tải hàng hóa và các dịch vụ kèm theo như chứng từ.
Họ được gọi là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải. Theo quan điểm của Nguyễn Văn Tiến “Dịch vụ vận tải quốc tế là hoạt động tổ chức và thực hiện vận chuyển hàng hóa, hành khách từ một quốc gia đến một hoặc nhiều quốc gia khác, được thực hiện bởi các doanh nghiệp vận tải quốc tế với sự hỗ trợ của các dịch vụ logistics. Một quan điểm khác về dịch vụ vận tải quốc tế nữa là: “Dịch vụ vận tải quốc tế không chỉ bao gồm việc di chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia, mà còn bao gồm các dịch vụ hỗ trợ đi kèm như giao nhận, lưu kho, và thủ tục hải quan, nhằm đảm bảo hàng hóa hoặc hành khách được vận chuyển an toàn, hiệu quả. Tại luật pháp Việt Nam, khái niệm dịch vụ vận tải quốc tế không được nêu rõ cụ thể mà được nêu cung tại Luật Thương mại 2005, theo đó, dịch vụ vận tải là một trong các hoạt động thương mại, bao gồm việc cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng các phương thức vận tải khác nhau, trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế.
Các khái niệm về dịch vụ vận tải quốc tế đều nhấn mạnh đặc điểm vận chuyển hàng hóa, hành khách qua biên giới giữa các quốc gia, với sự hỗ trợ của các dịch vụ logistics như giao nhận, lưu kho và thủ tục hải quan. Hoạt động này sử dụng nhiều phương thức vận tải khác nhau, tuân thủ pháp luật quốc gia và quốc tế, và mang tính thương mại cao khi được tổ chức bởi các doanh nghiệp vận tải chuyên nghiệp. Tại khóa luận này sẽ sử dụng khái niệm vận tải quốc tế của tác giả Đặng Văn Thanh làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài. Khái niệm dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển Có nhiều nghiên cứu viết về khái niệm vận tải đường biển quốc tế.
Trong nghiên cứu của UNCTAD có viết: “Vận tải biển là việc dùng phương tiện chuyên chở để chở hàng hóa bằng đường biển. Hay“Vận tải biển là một phương thức hoạt động vận tải dùng tàu thuyền (hoặc các phương thức hoạt động vận tải đường biển khác) để tiến hành việc chuyên chở hàng hóa, hành khách, hành lý trên các tuyến vận tải” (GS.Vương Toàn Thuyên, 1996). Còn đối với Nguyễn Hữu Hùng: “Vận tải biển là một ngành công nghiệp dịch vụ đáp ứng nhu cầu vận tải của xã hội thông qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển từ cảng biển này đến cảng biển khác trong không gian và theo thời gian để nhận tiền công vận chuyển” (Nguyễn Hữu Hùng, 2014). Xét theo góc độ pháp luật Việt Nam, vận tải biển quốc tế được giải thích tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 160/2016/NĐ-CP: “Vận tải biển quốc tế là việc vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý bằng tàu biển giữa cảng biển Việt Nam và cảng biển nước ngoài hoặc giữa các cảng biển nước ngoài.
Các khái niệm về vận tải đường biển quốc tế tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có điểm chung là nhấn mạnh việc sử dụng phương tiện vận tải đường biển để vận chuyển hàng hóa, hành khách hoặc hành lý giữa các cảng biển. Đặc biệt, các định nghĩa đều thống nhất rằng vận tải biển không chỉ là một phương thức vận chuyển mà còn là một hoạt động kinh tế, kỹ thuật và pháp lý quan trọng, kết nối các cảng biển trong và ngoài nước. Trong phạm vi nghiên cứu, khóa luận sử dụng khái niệm vận tải quốc tế bằng đường biển là việc sử dụng các phương tiện vận tải bằng đường biển để vận chuyển hàng hóa từ phạm vi quốc gia này đến phạm vi quốc gia khác qua các cảng biển. Khái niệm quản lý cung ứng dịch vụ vận tải hàng hóa Định nghĩa đơn giản nhất về quản trị vận tải được hiểu là quá trình giám sát việc vận chuyển hàng hóa.
Quá trình giám sát vận tải bao gồm các hoạt động như lập kế hoạch, lựa chọn nhà cung cấp, đàm phán các điều khoản, chuẩn bị giấy tờ, lene lịch điều phối. Theo Victoria Transport Policy Institute: “Quản trị vận tải hàng hóa bao gồm nhiều chiến lược khác nhau để tăng hiệu quả vận chuyển hàng hóa thương mại. Còn theo quan điểm của Hensher và cộng sự: “Quản trị vận tải hàng hóa là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động vận chuyển hàng hóa nhằm đảm bảo tính hiệu quả và an toàn. Quản trị vận tải hàng hóa bao gồm các hoạt động như điều phối phương tiện, lựa chọn tuyến đường, tối ưu hóa tải trọng và đảm bảo chất lượng dịch vụ”.
Còn đối với tác giả Chopra, ông cho rằng: “Quản trị vận tải hàng hóa là một phần trong chuỗi cung ứng tổng thể, nhằm đảm bảo hàng hóa đến đúng nơi, đúng thời gian, và đúng chi 19 phí. Quản trị chuỗi cung ứng tích hợp giúp tăng hiệu quả trong vận tải bằng cách liên kết chặt chẽ giữa nhà cung cấp, vận tải và khách hàng.” (Chopra và cộng sự, 2013) Như vậy, quản trị vận tải hiểu đơn giản là quá một phần của quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm các hoạt động cơ bản như lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Quản trị vận tải hàng hóa là một quá trình đòi hỏi nhiều hoạt động để đảm bảo việc cung ứng dịch vụ đến khách hàng được diễn ra thuận tiện nhất. Phân loại dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển Hiện nay có hai hệ thống phân loại dịch vụ vận tải biển quốc tế bao gồm CPC (Hệ thống phân loại sản phẩm tập trung) và MMS (Hệ thống phân loại theo ngành hàng hải).
Tại tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang sử dụng hệ thống CPC là cơ sở để phân loại. Theo đó, vận tải đường biển được phân thành ba nhóm chính. Nhóm 1 bao gồm vận tải biển quốc tế, không tính vận tải nội địa, và có sự phân biệt về công ty khai thác tàu mang cờ quốc gia và các hình thức thương mại khác. Nhóm 2 là dịch vụ hỗ trợ hàng hải, bao gồm các dịch vụ như xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, khai hải quan, đại lý tàu biển và dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Nhóm 3 liên quan đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ cảng, bao gồm các dịch vụ như hoa tiêu, lai dắt, cung cấp thực phẩm và dầu, dịch vụ cảng vụ, bảo đảm hàng hải, và sửa chữa khẩn cấp. Các dịch vụ nhóm 3 được cung cấp trên cơ sở pháp lý không phân biệt đối xử. Vì vậy, trong cam kết tự do hóa dịch vụ của WTO, nhóm này được xem là những cam kết thêm. Như vậy, trong phân loại của WTO đã phân loại rất rõ các nhóm dịch vụ.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khóa luận được nghiên cứu dịch vụ vận tải biển dưới góc độ của WTO, theo đó, dịch vụ vận tải biển quốc tế được chia thành hai nhóm chính: − Vận tải quốc tế bằng đường biển. − Dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế bằng đường biển. Đặc điểm của dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển Dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ logistics và các đặc điểm của dịch vụ vận tải quốc, bao gồm: Thứ nhất, dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển có tính chất vô hình và tính không tách rời. Dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển mang đặc trưng vừa vô hình vừa không tách rời, tạo nên những yêu cầu đặc thù trong quá trình cung cấp.
Tính vô hình thể hiện ở chỗ khách hàng chỉ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ sau khi sử dụng, dựa trên các tiêu chí như thời gian giao hàng, mức độ an toàn hàng hóa, thông tin vận chuyển, thái độ nhân viên, và sự đầy đủ của giấy tờ liên quan. Bên cạnh đó, tính không tách rời của 20 dịch vụ được thể hiện qua việc cung cấp và sử dụng diễn ra đồng thời khi có nhu cầu từ khách hàng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho doanh nghiệp trong việc dự đoán nhu cầu thị trường và ứng phó với các rủi ro tiềm ẩn trong quá trình cung cấp dịch vụ. Thứ hai, dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển không đồng đều về chất lượng.
Để cấu tạo nên dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện môi trường, trình độ quản lý, hoạt động kinh doanh, khả năng kiểm soát quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp, nhu cầu và đánh giá của khách hàng, nhà cung cấp hay đối thủ cạnh tranh. Do đó, bản thân dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển dễ dàng bị thay đổi nếu một trong các yếu tố trên bị biến đổi. Thứ ba, dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển có năng lực chuyên chở lớn và vận chuyển quãng đường dài. Năng lực chuyên chở của công cụ vận tải biển không bị hạn chế như các công cụ vận tải khác.
Trong cùng một chuyến đường biển có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều. Bên cạnh đó, trọng tải biển rất lớn, trọng tải trung bình của tàu hiện nay từ 15.