phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn gồm có ba chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi Chƣơng 2. Thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả từ quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre.
9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 1. Trẻ em và trẻ em mồ côi: khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm trẻ em và trẻ em mồ côi * Khái niệm trẻ em TE là đối tượng được nhiều khoa học nghiên cứu, ở nhiều góc độ khác nhau thì có nhiều định nghĩa khác nhau. Có người cho rằng, TE là một khái niệm chỉ người được sử dụng để phân biệt với người lớn.
Xét trên phương diện phát triển, TE là con người ở giai đoạn chưa trưởng thành về tinh thần và thể lực, cần có sự bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, bao gồm cả về mặt pháp lý thích hợp trước cũng như sau khai sinh. Công ước của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc định nghĩa TE có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với TE đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. 1] Ở Việt Nam, thuật ngữ về TE được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật, từ hiến pháp đến các bộ luật, luật. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về độ tuổi của TE trong các văn bản luật ở Việt Nam: Hiến pháp quy định tuổi làm nghĩa vụ công dân là từ 18 tuổi trở lên; Bộ Luật Lao động quy định độ tuổi lao động là từ 15 tuổi.
Bộ Luật Hình sự: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”, điều nầy cũng có thể được hiểu những người từ dưới 16 tuổi là TE. 9] Theo Luật BV,CS&GDTE được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 5, Quốc Hội khóa XI xác định: TE là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. 1] Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm trẻ em theo Luật BV,CS&GDTE năm 2004. Cụ thể, trong phạm vi nghiên cứu là những trẻ em mồ côi dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Bến Tre.
10 * Khái niệm trẻ em mồ côi Theo Khoản 1, Điều 3 của Luật BV,CS&GDTE, thì TECHCĐB là TE có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng. Và, tại Điều 40 của Luật nầy đã quy định 10 nhóm TECHCĐB bao gồm TEMC không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi; TE khuyết tật, tàn tật; TE là nạn nhân của chất độc hoá học; TE nhiễm HIV/AIDS; TE phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; TE phải làm việc xa gia đình; TE lang thang; TE bị xâm hại tình dục; TE nghiện ma tuý; TE vi phạm pháp luật. Trong xã hội, vẫn có nhóm TE trên thực tế không mồ côi cha mẹ (cha mẹ còn sống và không phải mất tích), nhưng vẫn không có mối liên hệ về mặt kinh tế ngay từ khi mới sinh ra. Đó là nhóm trẻ em bị bỏ rơi.
Do các em không có cha, không có mẹ hoặc không có cả hai và khó khăn về chăm sóc kinh tế nên nhóm TE nầy sẽ có nhiều biểu hiện khác so với các nhóm TECHCĐB khác và cũng khác với nhóm TE bình thường. Theo Khoản 6, Điều 3 của Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 thì: TEMC là TE mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được. 2] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định TEMC là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh cả cha lẫn mẹ đã chết hoặc cha hoặc mẹ đã chết; cả cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đã mất tích theo quy định của Pháp luật Dân sự (gồm có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp). Những vấn đề trẻ em mồ côi thường gặp Khi xã hội phát triển, sẽ có nhiều vấn đề xã hội phát sinh, trong đó hầu hết các đối tượng yếu thế ít nhiều đều bị ảnh hưởng, nhưng TEMC là đối tượng mà các vấn đề xã hội đang rình rập nhiều nhất, các em dễ bị ảnh hưởng nhất.
Có nhiều vấn đề TEMC thường gặp nhưng đáng quan tâm nhất đó là nguy cơ trẻ bị xâm hại; kế đến là nguy cơ trẻ bỏ học; tiếp theo là nguy cơ trẻ bị cưỡng bức lao động và cuối cùng là trẻ dễ vướng vào các tệ nạn xã hội. Nguy cơ trẻ bị xâm hại Xâm hại là tất cả thái độ, hành vi tổn thương đến sự tự trọng của trẻ, làm hại đến thân thể, sức khỏe và tâm lý của trẻ qua hành động mắng chửi, xỉ nhục, thậm chí là dùng vũ lực (đánh đập) để trừng phạt, răng đe dạy dỗ,. Sự xâm hại đó không chỉ diễn ra trong gia đình, mà còn diễn ra trong trường học, thậm chí ngay trên đường phố hoặc nơi trẻ làm việc,. Khái niệm xâm hại TE không chỉ dừng lại là xâm hại thân thể mà còn xâm hại tới cảm xúc, tinh thần thậm chí là xâm hại tình dục.
Xâm hại thân thể bao gồm mọi hình thức gây đau đớn về thể chất cho các em như bấu véo, rung lắc, hay bợp tai, tát, đánh đập,. Trẻ có thể bị tổn thương rất đa dạng, từ tổn thương phần mềm (vết rách, bỏng, bầm tím, .) cho đến gãy răng, gãy xương, vỡ nội tạng, thương tích hệ thần kinh trung ương. Do bị xúc phạm thân thể từ nhỏ nên khi lớn lên các em lại dễ phát triển thành những hành vi bạo lực hoặc dễ sa vào tội phạm sau nầy. Xâm hại về tinh thần có thể bao gồm những hành vi mắng chửi, lăng nhục trẻ,.
những hành vi nầy gây rối loạn nghiêm trọng về nhân cách, nhận thức và tâm trí trẻ, chúng dễ trở thành người mất lòng tin, sống thu mình, không cởi mở, có biểu hiện thụ động hay kích động quá mức, thể chất còi cọc, ngôn ngữ phát triển chậm, gương mặt vô cảm. Xâm hại tình dục TE là người lớn tuổi hơn sử dụng quyền lực và sức mạnh, có thể là tiền bạc, vật chất, lợi dụng sự ngây thơ, lòng tin và sự tôn trọng của trẻ để ép buộc trẻ tham gia vào hành vi tình dục; Gây tổn hại về sức khỏe thể chất và tâm lý cho TE như bị trầm uất, sợ hãi, lo lắng, mặc cảm, tự ti, hung hãn, bất cần, tự hủy hoại bản thân,.; Ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển của trẻ: cuộc sống của các em dễ bị xáo trộn như học sút kém, bỏ học, bỏ nhà đi, thay đổi tính nết, trở nên khó bảo, xa lánh mọi người, dễ có hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội; Gây mất trật tự, an toàn xã hội, gia tăng tội phạm, tệ nạn mại dâm. Một số trẻ bị lạm dụng tình dục sau đó dễ đi vào con đường mại dâm hoặc môi giới mại dâm, lạm dụng tình dục TE khác. Nguy cơ trẻ bỏ học TE ở lứa tuổi dưới 16 là lứa tuổi mà các em phải ngồi trên ghế nhà trường để lĩnh hội kiến thức từ các trường phổ thông hoặc trường nghề, tích lũy kiến thức để chọn một ngành nghề phù hợp với nguyện vọng, với sở trường để có nghề nghiệp vững vàng trong tương lai, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, vì lý do khách quan, cũng có khi là lý do chủ quan mà các em phải rời trường, phải bỏ lớp khi còn ở lứa tuổi dưới 16 để mưu sinh kiếm sống thì nhóm TE này được gọi là TE bỏ học. Hiện nay, nhóm TE bỏ học chưa được đề cập trong Luật BVCSTE 2004 nhưng theo Điều 40 của Luật BVCSTE 2004 thì nhóm TEMC được quy định trong Luật là nhóm TECHCĐB. Có nhiều vấn đề mà TEMC thường gặp, trong đó có cả nguy cơ bỏ học của trẻ. Ở lứa tuổi này, các em mồ côi cha mẹ hoặc giả là mồ côi một bề thì việc bỏ học để tìm kế sinh nhai là việc thường gặp.
Các công việc mà các em đi làm sau khi bỏ học thường đa dạng và cũng gắn liền với cuộc sống của các em, có em thì đi bán vé số, có em đi làm thuê ở lò bánh mì, lò gạch, cũng có khi giữ nhà cho chủ, đi vác mướn, đánh giày,. Những công việc này thường gắn một phần lớn vào việc quyết định phát triển nhân cách của trẻ khi các em lớn lên. Trẻ em lao động sớm Theo kết quả cuộc điều tra quốc gia về lao động TE (2002) thì cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về lao động TE. Tuy nhiên, các quốc gia đều dựa theo công ước và những tiêu chuẩn của tổ chức ILO làm căn cứ xác định lao động TE.
Theo luật pháp Việt Nam thì chưa có khái niệm về lao động TE và chưa thống nhất một cách hiểu chung về lao động TE. Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh thì lao động TE là trẻ làm việc trong độ tuổi còn đi học, các em có thể được trả công hay không trả công, làm việc bên trong hay bên ngoài gia đình, trẻ có thể làm các công việc nhẹ đến nặng nhọc. 13 Có thể nói trẻ bị cưỡng bức lao động là TE phải làm việc nặng nhọc trong môi trường độc hại nguy hiểm hoặc trẻ làm việc nặng nhọc quá sức hay công việc hoặc thời giờ làm việc đó không phù hợp với TE. Khi các em tham gia lao động sớm thì các em có thể phải va chạm vào cuộc sống đầy phức tạp, các em rất dễ bị nhiễm các thói hư tật xấu của xã hội.
Tất cả những trẻ lao động sớm có thể là đối tượng tấn công của bất kỳ một loại tệ nạn xã hội. Thậm chí là vi phạm pháp luật rất cao. Ban ngày các em đi làm, tối về thì tụ tập ở bến xe, quán net, tụ điểm đen, các em muốn khẳng định bản thân, các em bị cuốn vào các trò vô bổ và cuộc sống không lành mạnh. Điều này đã làm hỏng nhân cách của các em.
Vướng vào các tệ nạn xã hội TEMC thường thiếu vắng sự chăm sóc một cách trọn vẹn của của cả cha lẫn mẹ. Các em thường dễ bị tổn thương cả về thể chất lẫn tinh thần.