CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHỦ NHIỆM LỚP TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ CHO HỌC SINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động CNL cấp THCS theo định hướng phát triển năng lực Từ trước tới nay, có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về hoạt động CNL như: Cuốn Phương pháp hoạt động chủ nhiệm lớp (1984) của Bôn – đư – rep N., [9] đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thực hiện hoạt động CNL ở các trường phổ thông nói chung và trong đó có trường THCS. Cuốn Hoạt động giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông (2009) của Hà Nhật Thăng [39] đã nêu ra một cái nhìn tổng quát về hoạt động CNL tại nhà trường phổ thông, trong đó có nói về hoạt động CNL tại nhà trường THCS.
Tác giả nêu bật các nhiệm vụ trọng tâm của GVCN, các nội dung hoạt động chủ nhiệm, một số biện pháp giáo dục học sinh HS. Để thực hiện tốt hoạt động CNL điều cần thiết nhất vẫn là năng lực của mỗi GVCN. Cuốn Cẩm Nang Giáo Viên: Kĩ năng công tác giáo viên chủ nhiệm (2019) của Hoàng Tố Nga [30] dựa trên kinh nghiệm thực tế làm công tác GVCN của tác giả và sự học hỏi đúc kết từ các đồng nghiệp đã trình bày rõ những kỹ năng cần thiết cho công tác chủ nhiệm và các văn bản cần thiết cho GVCN. Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về hoạt động CNL của các tác giả được công bố trong các bài viết của Hội thảo khoa học giáo dục và các tạp chí chuyên ngành như: Cuốn Kỷ yếu hội thảo hoạt động giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông (2010) của Bộ GD&ĐT [5] có nhiều bài viết giới thiệu tương đối đầy đủ những biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động CNL như: Nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay của Bùi Văn Quân; Một vài điểm mới trong hoạt động chủ nhiệm lớp ở 6 trường phổ thông của Hà Nhật Thăng [40]; Phương hướng nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông Nguyễn Dục Quang [35]; Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông quan niệm và một số kiến giải của Đặng Quốc Bảo [3].
Nghiên cứu về Hoạt động chủ nhiệm của giáo viên ở trường trung học cơ sở (2014) của Nguyễn Long Sơn [38]. Nghiên cứu Thực trạng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp các trường trung học cơ sở huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (2016) của Phan Văn Có [13]. Nghiên cứu Giáo dục định hướng cho sinh viên sư phạm làm hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông (2018) của Nguyễn Văn Tráng [42]. Những nghiên cứu này đã đề cập tới thực trạng hoạt động CNL ở trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, trên cơ sở đó các tác giả đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động CNL.
Tóm lại, các nghiên cứu đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động CNL ở trường phổ thông, trong đó có trường THCS. Nhưng tựu chung lại, đã đưa ra được biện pháp tốt nhất nhằm phát huy cao hiệu quả của hoạt động này. Đây thực sự là những tư liệu vô cùng hữu ích cho tác giả khi tiến hành nghiên cứu luận văn. Những nghiên cứu về năng lực tự chủ và quản lý về hoạt động chủ nhiệm theo định hướng phát triển năng lực tự chủ Đã có nhiều các nhà khoa học quốc tế và trong nước nghiên cứu về vấn đề này: Trong cuốn “Tự chủ và tự học ngoại ngữ” (1979) Holec [23] đã đề cập tới vấn đề tự chủ và tự học của người học ngoại ngữ, trên cơ sở đó tác giả đưa ra kết luận năng lực tự chủ là năng lực chịu trách nhiệm về việc học của mình.
Little (1991) đã bổ sung thêm và diễn giải “Tự chủ” có thuộc tính của năng lực, bao gồm các kỹ năng có thể học tập hoặc bẩm sinh. Cụ thể là kỹ năng tự học tập cá nhân, kỹ năng suy nghĩ độc lập, tự quyết định và làm việc một mình. Dickinson (1993) cho rằng tự chủ trong học tập là hoàn cảnh trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả các quyết định liên quan đến việc học của bản thân và thực thi những quyết định đó. Benson và Voller (1997) tổng kết lại bốn định nghĩa khác nhau của tự chủ 7 trong học tập là những hoàn cảnh trong đó người học hoàn toàn học một mình; là những kỹ năng có thể học và ứng dụng để tự định hướng; là sự thực thi trách nhiệm của người học đối với việc học của mình; hay người học được quyết định về việc học của mình.
Theo đó, các tác giả này đã phân biệt bốn quan niệm khác nhau về tự chủ trong học tập, bao gồm: Quan điểm thuần túy kỹ thuật xem tự chủ là hoạt động học bên ngoài bối cảnh trường lớp và không có sự can thiệp của GV; Quan điểm tâm lý học xem tự chủ là năng lực cho phép người học chịu trách nhiệm về việc học của mình; Quan điểm chính trị xem tự chủ là điều kiện cho phép người học kiểm soát quá trình và nội dung học tập cũng như bối cảnh trường lớp mà trong đó việc học diễn ra; Quan điểm xã hội xem tự chủ là năng lực tương tác và hợp tác với người khác trong việc học. John Dewey (2008) là người tiên phong đề ra phương pháp giảng dạy hướng tới người học. Hình thức này khuyến khích người học biết vận dụng năng lực của bản thân, khích lệ người học phải biết chỉ huy và tự nhận trọng trách cao hơn. Ông quan niệm HS là mặt trời, xung quanh là tập hợp tất cả các công cụ dạy học.
Ngoài ra, còn có một số luận án, luận văn nghiên cứu về hoạt động CNL cấp THCS theo định hướng phát triển năng lực như: Nghiên cứu Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (2017) của Tống Thị Hồng Vân [49], Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục. Trên cơ sở phân tích khoa học, điều tra, khảo sát hiện trạng công tác CNL và QL công tác CNL tại các nhà trường THCS ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, tác giả đề xuất biện pháp QL công tác CNL, góp phần nâng cao kết quả GD toàn diện HS, đáp ứng nhu cầu phát triển GD THCS trong bối cảnh hiện tại. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chưa đề cập tới quản lý hoạt động CNL theo hướng phát triển năng lực tự chủ cho HS chỉ đề cập tới QL công tác CNL nói chung. Nghiên cứu Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm của HT các trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương (2017) của Trần Thụy Hưng Thảo [45], Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục.
Nghiên cứu đã khảo sát cơ sở lý luận công tác CNL và thực tiễn quản lý công tác chủ nhiệm ở thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề ra những biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm của Ban 8 giám hiệu các nhà trường THCS trên địa bàn thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh toàn diện. Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở đề xuất biện pháp quản lý hoạt động CNL của HT chưa chú trọng đến việc quản lý hoạt động CNL theo hướng phát triển năng lực cho HS. Nghiên cứu Phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học cơ sở theo tiếp cận năng lực (2019) của Lưu Hồng Uyên [46], Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục.
Nghiên cứu đã chỉ ra bộ khung năng lực của GVCN ở trường THCS, gồm các yếu tố: Bản lĩnh chính trị và đạo đức, lối sống; Năng lực hiểu biết đối tượng và môi trường giáo dục; Năng lực giảng dạy; Năng lực giáo dục học sinh; Năng lực tổ chức tập thể lớp học; Năng lực xử lý những tình huống giáo dục học sinh; Năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển cá nhân. Từ đó, kiến nghị biện pháp phát triển đội ngũ CBQL, đội ngũ GV đặc biệt là GVCN bậc THCS theo định hướng năng lực. Nhưng nghiên cứu của tác giả cũng chưa quan tâm tới quản lý hoạt động CNL theo hướng phát triển năng lực tự chủ cho HS. Như vậy, các nghiên cứu trên mới đề cập tới năng lực tự chủ mà chưa đề cập tới quản lý về hoạt động chủ nhiệm theo định hướng phát triển năng lực tự chủ ở trường THCS.
Do vậy, nghiên cứu quản lý về hoạt động chủ nhiệm theo định hướng phát triển năng lực tự chủ ở trường THCS là việc làm cần thiết. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Hiện nay, thuật ngữ quản lý được các nhà nghiên cứu sử dụng theo nhiều cách khác nhau, phải nhắc tới bao gồm: Theo Cuốn công nghiệp và quản lý chung (1917) của Henrry Fayol [22] đã kết luận: “QL là một quá trình gồm toàn bộ những bước: xây dựng chiến lược, kế hoạch, phân quyền và giám sát những cố gắng của cá nhân, tổ chức nhằm khai thác có hiệu quả những tiềm lực vật chất khác của tập thể nhằm thực hiện những mục đích đặt ra". Theo cuốn Về giáo dục (1987) C.Mác [11] cho rằng: "Bất kỳ loại lao động nào trực tiếp hay lao động chung được thực hiện trên qui mô khá rộng lớn, đều ít nhiều cũng sẽ có một sự chỉ huy để điều tiết các hành động của cá nhân nhằm tiến hành các nhiệm vụ chung nảy sinh do sự vận động của toàn thân thể sản xuất so với 9 sự vận động của từng cơ quan riêng biệt của nó".
Cuốn Lý luận dạy học Đại cương (1989) của Nguyễn Ngọc Quang [32] quan niệm: "Quản lý là hoạt động có mục tiêu, có tổ chức của chủ thể quản lý đối với tập thể của những người lao động (là khách thể quản lý) để đạt đến các mục đích dự định". Theo cuốn Những nguyên tắc quản lí một cách khoa học (1991) của Taylor [43] quan niệm về quản lý là "người có thẩm quyền phải biết làm đúng việc bản thân mong muốn người khác thực hiện và từ đó biết lý do tại sao nhân viên đã thực hiện theo cách nhanh nhất và hiệu quả nhất".