Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Khái quát chung về chi ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành, phát triển của nhà nước và hàng hóa - tiền tệ, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện chức năng chính trị duy trì và phát triển kinh tế- xã hội, quy định các khoản thu chi của nhà nước nhằm mục đích đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội, khái niệm NSNN đã được đề cập dưới các góc độ khác nhau [1, tr. Ở Việt Nam, theo Điều 4, Luật NSNN 2015 “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. NSNN bao gồm NSTW và NSĐP. NSTW là các khoản thu NSNN phân cấp cho trung ương hưởng và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.
NSĐP là các khoản NSNN phân cấp cho địa phương hưởng, thu bổ sung từ NSTW cho NSĐP và các khoản chi NSNN thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương. NSNN cấp huyện là toàn bộ các khoản thu - chi được quy định dựa vào dự toán trong một năm, do HĐND huyện quyết định giao cho UBND huyện tổ chức chấp hành, nhằm đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương trên địa bàn, địa phương [1, tr. Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền nhà nước. Ở nước ta với mô hình nhà nước thống nhất nên hệ thống ngân sách được tổ chức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, trong đó NSĐP bao gồm các cấp ngân sách: ngân sách thành phố (hay tỉnh), ngân sách quận (huyện), ngân sách xã (phường).
Hệ thống NSNN Việt Nam được chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thể hiện những đặc điểm sau đây: Tính thống nhất: đòi hỏi các khâu trong hệ thống ngân sách phải hợp thành một thể thống nhất, biểu hiện các cấp ngân sách có cùng nguồn thu, cùng định mức chi tiêu và cùng thực hiện một quá trình ngân sách. Tính tập trung: thể hiện ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên và được trợ cấp từ ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo cân đối của ngân sách cấp mình. Tính dân chủ: dự toán và quyết toán ngân sách phải được tổng hợp từ ngân sách cấp dưới, đồng thời mỗi cấp chính quyền có một ngân sách và được quyền chi phối ngân sách cấp mình.
Đảm bảo tính phù hợp giữa cấp ngân sách và cấp chính quyền nhà nước. Căn cứ vào Luật ngân sách nhà nước quy định, ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (NSĐP). Ngân sách các cấp chính quyền địa phương bao gồm: - Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); 9 - Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); - Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). Khái niệm chi ngân sách nhà nước Chi NSNN theo Khoản 2, Điều 5, Luật NSNN 2015 quy định rõ “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” Theo khái niệm trên, chi NSNN chính là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN theo các mục đích sử dụng thực tế đã được luật định.
Do đó, chi NSNN là công việc định vị khoản chi cụ thể cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Vậy, có thể định nghĩa chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc luật định. Mục đích của chi NSNN là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Căn cứ để thực hiện chi NSNN là dự toán ngân sách hàng năm, các quy định của pháp luật và các định mức, tiêu chu n chi ngân sách.
Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN. Quá trình phân phối là việc cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là việc trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Hoạt động chi NSNN ngoài vai trò duy trì và phát triển bộ máy còn có vai trò là một trong những công cụ của nhà nước nhằm điều tiết các hoạt động trong nền KTXH theo đúng định hướng đã đề ra.
Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước Ở mỗi quốc gia khác nhau, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có quy mô và nội dung khác nhau, song nhìn chung, chi NSNN ở các nước đều có đặc trưng cơ bản như sau: Một là, chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đó đảm đương trong từng thời kỳ. Nhiệm vụ cơ bản của chi NSNN là đáp ứng yêu cầu về tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước, cho phép nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ được giao. Vì thế, quy mô, cơ cấu, phân cấp chi NSNN phụ thuộc vào quy mô, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và phân cấp bộ máy quản lý nhà nước. Từ khi nhà nước tham gia điều chỉnh nền kinh tế, quy mô và cơ cấu chi NSNN không những tăng lên mà còn khá phức tạp.
Hai là, chi NSNN theo luật định. Theo pháp luật của Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền định quy mô, nội dung, cơ cấu và phân bổ chi tiêu NSNN cho các mục tiêu quan trọng nhất. Nội dung chi NSNN ở mỗi cấp chính quyền được quy định trong Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Ba là, Chi NSNN hướng đến lợi ích chung của quốc gia và địa phương.
Các cơ quan sử dụng NSNN không được vì lợi ích cục bộ địa phương mình mà sử dụng NSNN đi ngược lại với lợi ích của quốc gia và địa phương. Hơn nữa, do chi NSNN có mục tiêu duy trì ổn định và phát triển đất nước lâu dài, vì lợi ích của nhân dân và toàn xã hội, nên chi NSNN phải được kiểm soát nghiêm ngặt để tranh sự lạm dụng, tham ô, tham nhũng của những người quản lý và sử dụng NSNN. Bốn là, các khoản chi NSNN phần lớn đều mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp. Thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản chi 11 NSNN đều tương xứng với quy mô thu NSNN từ các địa phương và chủ thể xác định.
Năm là, hiệu quả của chi NSNN được đo lường ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về mặt KTXH, lẫn chính trị và ngoại giao. Thường người ta đánh giá hiệu quả sử dụng các khoản chi của NSNN trên các mặt điều tiết nền kinh tế thị trường như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, xây dựng cơ sở hạ tầng KTXH, thiết lập các quan hệ ngoại giao. Chi NSNN không được đánh giá dựa vào lợi ích cục bộ của các cơ quan sử dụng NSNN. Sáu là, các khoản chi NSNN gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái, tín dụng…Nhận thức rõ mối quan hệ này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ giữa chính sách ngân sách với chính sách tiền tệ, thu nhập trong quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Khái niệm và đặc điểm chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện * Khái niệm Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội. Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước.
Với xu thế phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của nhà nước ngày càng gia tăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng 12 * Đặc điểm - Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bố tương đối đều giữa các quý trong năm, giữa các tháng trong quý, giữa các năm trong kỳ kế hoạch. - Việc sử dụng kinh phí thường xuyên chủ yếu chi cho con người, sự việc nên nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia. - Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển.Hiệu quả của nó không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đ y sự phát triển bện vững của đất nước. - Đặc điểm trên cho thấy vai trò chi thường xuyên có thể ảnh hưởng rất quan trọng đến đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia.
- Chi hoạt động theo chức năng, hiệm vụ được cấp có th m quyền giao. - Chi nhiệm vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí. - Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định của pháp luật). - Các khoản chi thường xuyên có thể được phân chia thành các nhóm.