CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN Hình thức tổ chức công ty cổ phần dần dần trở th ành hình thức phổ biến của các loại hình sở hữu doanh nghiệp không chỉ ở các quốc gia phát triển tr ên thế giới mà còn tại các quốc gia của nền kinh tế thị tr ường mới nổi trong đó có Việt Nam. Mục tiêu của hoạt động quản trị tài chính trong các công ty cổ phần là tối đa hóa giá trị tài sản của cổ đông. Tuy nhiên do sự phân định rõ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, các nhà quản trị doanh nghiệp nhiều khi không cố gắng t hực hiện mục tiêu này đã tạo nên các mâu thuẫn đại diện, các mâu thuẫn đại diện này xuất phát từ rủi ro về đạo đức, thu nhập giữ lại, về phạm vi thời gian hay rủi ro do lo ngại trách nhiệm của nhà quản lý và đây chính là nguyên nhân làm phát sinh chi phí đ ại diện trong loại hình công ty cổ phần. Vấn đề mâu thuẫn n ày càng trở nên phức tạp và khó giải quyết hơn khi doanh nghiệp đặt trong tình trạng bất cân xứng thông tin.
Chi phí đại diện bản thân nó không chỉ l àm gia tăng các chi phí của doanh nghiệp trong việc kiểm soát hoạt động của ban quản lý nhằm thực hiện mục ti êu của quản trị tài chính mà còn là những mất mát phụ trội khi các công ty cổ phần không thực hiện được mục tiêu này. Sự phân định giữa quyền sở hữu v à quyền quản lý 1. Khái niệm quyền sở hữu và quyền quản lý Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng v à quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (Điều 164, Bộ Luật dân sự). Quyền quản lý là quyền kiểm soát, chi phối tài sản nào đó theo ý chí của chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền.
Chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền có quyền quản lý tài sản đó theo luật định hay theo phạm vi ủy quyền. Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý Trong các công ty lớn, sự phân định giữa quyền sở hữu v à quyền quản lý là điều hết sức cần thiết. Những công ty n ày có thể có hàng trăm ngàn cổ đông, do vậy không có cách nào thỏa mãn việc tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý. Việc phân định quyền sở hữu và quyền quản lý đã có một thuận lợi rõ ràng.
Nó cho phép LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 chia nhỏ quyền sở hữu theo những phần góp vốn bằng nhau v à từ đó sự chuyển nhượng thay đổi quyền sở hữu sẽ không gây phiền phức đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Và điều này cũng cho phép công ty thuê những nhà quản lý chuyên nghiệp để điều hành công ty của mình theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc phân định giữa quyền sở hữu v à quyền quản lý bản thân nó cũng mang lại nhiều vấn đề phức tạp nh ư mục tiêu của các chủ sở hữu và mục tiêu của các nhà quản lý khác nhau, các nhà quản lý và các chủ sở hữu có những thông tin rất khác nhau về giá trị của các tài sản thực hoặc các tài sản tài chính của công ty. Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu và sự bất cân xứng thông tin của các cổ đông v à các nhà quản lý đã tạo nên những vấn đề về người chủ sở hữu và người đại diện.
Người chủ sở hữu trong công ty cổ phần Người chủ sở hữu là người sở hữu các giá trị tài sản của công ty có quyền sử dụng và sở hữu tài sản. Trong công ty cổ phần, người chủ sở hữu là các cổ đông. Các cổ đông sẽ thuê các nhà quản lý và yêu cầu họ làm sao để gia tăng giá trị công ty. Khi các cổ đông khuyến khích các nhà quản lý nổ lực làm việc vì quyền lợi của cổ đông và như vậy các nhà quản lý cấp cao lại phải tiếp tục suy nghĩ cần những biện pháp gì để động viên khuyến khích mọi người khác trong công ty cùng nổ lực làm việc.
Trong trường hợp này, nhà quản trị cấp cao sẽ là người chủ, các nhà quản trị cấp thấp hơn và tất cả những nhân viên khác sẽ là người đại diện. Khi các nhà đầu tư tiến hành đầu tư vào công ty, họ sẽ trở thành người chủ của công ty. Người đại diện trong công ty cổ phần Người đại diện cho các cổ đông trong các công ty cổ phần là nhà quản lý điều hành công ty theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu ban đầu của các chủ sở hữu. Nhà quản lý không những điều hành công việc ở tầm vĩ mô mà còn phải thường xuyên tiếp nhận những thông tin phản hồi từ phía nhân viên.
Nhà quản lý phải làm sao thể hiện được năng lực quản lý và điều hành nhân viên của họ. Vấn đề mâu thuẫn giữa ng ười chủ và người đại diện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Trong hoạt động kinh doanh của công ty, ngoài cổ đông là những người trực tiếp đầu tư vào công ty và tất nhiên họ luôn mong muốn kiếm được nhiều lợi nhuận, tức tối đa hóa giá trị công ty. Còn có những nhà quản lý chuyên nghiệp được thuê về để điều hành hoạt động của công ty theo hướng hiệu quả nhất nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của công ty đã đề ra. Tuy nhiên, đôi khi các nhà quản lý này lại có những quyết định đi trái lại lợi ích của công ty, hay thu vén cho cá nhân từ đồng tiền của cổ đông, hoặc tìm kiếm sự nhàn nhã, không làm hết năng lực,… sẽ gây thiệt hại cho công ty.
Còn trong lãnh vực tài chính, khi một công ty gặp khó khăn về tài chính, khi đó chủ nợ là người chủ còn cổ đông là người đại diện phần tiền của chủ nợ. Vào những lúc như vậy sự thay đổi ban quản lý là điều cần thiết để cứu công ty, nhưng những nhà cho vay lại không còn muốn tiếp tục đầu tư vào công ty và họ quan tâm đến việc thu hồi lại khoản tiền cho công ty vay. Sự tranh cải có thể xảy ra giữa các nhà tài trợ khác nhau và khi các chủ nợ cảm nhận công ty có khả năng bị phá sản sẽ có sự tranh giành giữa các chủ nợ nhằm giành cho mình một vị trí ưu tiên hơn để nhận lại khoản vay theo thứ tự chi trả của luật phá sản. Ngo ài ra, khi công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, các mâu thuẫn quyền lợi sẽ cản trở các quyết định đúng đắn về hoạt động, đầu tư, và tài trợ.
Các cổ đông thường từ bỏ mục tiêu thông thường là tối đa hóa giá trị thị trường công ty, thay vào đó họ theo đổi mục tiêu hạn hẹp hơn là quyền lợi riêng của mình. Họ thường có khuynh hướng thực hiện các trò chơi riêng mà phần thiệt hại sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Chi phí đại diện 1. Khái niệm chi phí đại diện Lý thuyết đại diện đề cập đến mâu thuẫn đại diện, hay mâu thuẫn lợi ích giữa người đại diện và người sở hữu, và khi vấn đề đại diện phát sinh sẽ làm phát sinh chi phí đại diện.
Chi phí đại diện là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả ví dụ như một khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyến khích họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Lý thuyết đại diện định nghĩa chi phí đại diện l à tổng của các loại chi phí: chi phí giám sát để giám sát hoạt động của người đại diện, như là chi phí kiểm toán; chi phí ràng buộc để thiết lập một bộ máy có thể tối thiểu những h ành vi quản trị không mong muốn, như là bổ nhiệm những thành viên bên ngoài vào ban giám đốc hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty; v à khoản mất mát phụ trội hay chi phí cơ hội khi các cổ đông thuê người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đại diện lạm dụng quyền đ ược giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quy định đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từ những biện pháp kiểm soát hoạt động của ng ười đại diện. Chi phí đại diện xuất hiện khi các nhà quản lý không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hóa giá trị công ty, khi đó các cổ đông sẽ gánh chịu phí tổn để kiểm soát ban quản lý và do đó ảnh hưởng đến công việc của họ. Theo Jensen - Meckling, vấn đề các nhà quản lý trốn tránh nhiệm vụ của mình sẽ được xem như một loại chi phí, các nhà quản lý không thể hiện năng lực lãnh đạo của họ cũng được xem là một loại chi phí.
Jensen - Meckling định nghĩa chi phí đại diện nh ư là sự tổng hợp các chi phí của một hợp đồng có tổ chức. Hợp đồng này gồm, một người chủ sở hữu thuê một người đại diện làm nhiệm vụ thay thế cho người sở hữu. Người sở hữu đưa ra quyết định, ủy quyền cho người đại diện. Nếu gọi M là chi phí giám sát, B là chi phí ràng buộc và R là khoản mất mát phụ trội, vậy chi phí đại diện được thể hiện qua công thức sau: M + B + R Như vậy, tổng chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và khoản mất mát phụ trội được gọi là chi phí đại diện vì chúng xuất phát từ các mối quan hệ giữa người sở hữu và người quản lý.
Chi phí giám sát Chi phí giám sát là những chi phí do người chủ sở hữu trả để đo lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của ng ười đại diện, nhằm đảm bảo rằng người đại diện gắn với lợi ích của ng ười chủ sở hữu. Có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giám sát, chi phí ký kết hợ p đồng, bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với người đại diện. Thực chất đây là chi phí do người đại diện phải gánh chịu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vì các khoản tiền lương, tiền thưởng, các ưu đãi khác,… của họ sẽ bị điều chỉnh để bù đắp những chi phí này.