Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CÔNG LẬP CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Những khái niệm cơ bản 1. Ngân sách nhà nước Trong hệ thống tài chính thống nhất NSNN là khâu tài chính tập chung giữ vai trò chủ đạo. Đồng thời, NSNN là khâu tài chính được hình thành từ rất sớm và gắn với sự tồn tại và phát triển của hệ thống quản lý nhà nước và nền kinh tế hàng hoá, tiền tệ.
Hiện nay, thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội ở các quốc gia, tuy nhiên, quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa thực sự thống nhất. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “Ngân sách là văn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị công) hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội) được dự kiến và cho phép”. Tại Việt Nam, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN. Theo giáo trình Quản lý thu Ngân sách nhà nước (2010) của Học viện Tài chính [20] định nghĩa: “NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử.
NSNN được đặc trưng bằng sự vận động gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”. Theo Khoản 14, Điều 04, Luật Ngân sách Nhà nước (83/2015/QH13), thông qua tại kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [4]. Các quan điểm trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân tố hợp lý của chúng song chưa đầy đủ.
Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng nhưng NSNN là hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành tài chính Nhà nước. Vì vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN. Về mặt hình thức, hoạt động của NSNN được biểu hiện dưới hình thức của các khoản thu và chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Các khoản thu, chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu - chi tài chính được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong đó, với các khoản thu mang tính chất bắt buộc (thuế, phí, lệ phí…)[3] của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân, được tạo ra trong các hoạt động kinh tế và các khoản chi cơ bản của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho sự nghiệp đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội. Do đó, về mặt hình thức có thể hiểu: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước có trong dự toán, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (Quốc hội) và được thực hiện trong một năm để đảm bảo việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Về nội dung, ẩn sau hình thức biểu hiện ra bên ngoài của NSNN là một quỹ tiền tệ với các khoản thu và các khoản chi của nó, NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Về bản chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
Chi Ngân sách nhà nước 1. Chi thường xuyên Ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Theo quyết định số 1187/KB/KHTH ngày 10/9/2003 hướng dẫn kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước, Hà Nội [33] định nghĩa: Chi ngân sách một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Chi NSNN thể hiện các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế xã hội mà nhà nước đảm nhận theo các nguyên tắc nhất định. Theo đó, chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Những khoản chi này gồm: − Chi các hoạt động sự nghiệp kinh tế, Giáo dục và Đào tạo công lập, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; − Chi quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương); − Chi hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương; − Chi hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật; − Chi thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý; − Chi chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; − Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước; − Chi các khoản chi khác theo quy định của pháp luật; Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau là quá trình phân phối và quá trình sử dụng. Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu NSNN có ý nghĩa quan trọng trong quản lý NSNN.
Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng; Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành NSNN), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội. thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách. Quá trình sử dụng: là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng được hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN. NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước.
Khái niệm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục Theo giáo trình Quản lý tài chính nhà nước (2007), Nxb Tài chính, Hà Nội [19] định nghĩa: Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là các khoản chi tiêu của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách dành cho các cơ sở giáo dục - đào tạo để duy trì sự hoạt động của cơ sở giáo dục - đào tạo trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trên địa bàn. Phân loại chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm 4 nhóm chi chính Nhóm 1: Chi Bộ máy Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: Tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản khác. Trong đó: Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng. Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp khu vự, Ưu đãi, Thâm niên vượt khung, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm, phụ cấp thâm niên nghề.
Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác. Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn đột xuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác. Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, BHYT, BHTN, KPCĐ. Nhóm 2: Chi quản lý hành chính Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng khác); Chi vật tư văn phòng (gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tư văn phòng khác); Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông.); Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí khác); Chi hội nghị phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội trường, chi bù tiền ăn và các chi phí khác).
Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn. Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác giáo dục. Khoản chi này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn, thiết bị chuyên dụng, sách, tài liệu, mua súc vật dùng cho hoạt động chuyên môn,. Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản.
Như mua thiết bị dạy học, máy chiếu, máy photocopy, máy điều hòa,… phục vụ hoạt động giảng dạy,… Đặc điểm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của các trường cũng như các cơ quan quản lý nhằm đảm bảo các trường thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đầy đủ các đặc điểm của chi thường xuyên NSNN, cụ thể: Thứ nhất, chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục khá ổn định.