CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH CÔNG LẬP 1. Tổng quan Mô hình bệnh tật ở Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn chuyển đổi, với gánh nặng của các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm, tai nạn, chấn thương, ngộ độc; một số dịch bệnh mới, bệnh lạ xuất hiện và diễn biến khó lường. Tỷ trọng nhập viện của nhóm các bệnh lây nhiễm giảm mạnh từ 55,5% năm 1976 xuống 19,8% năm 2010, tuy nhiên lại tăng lên 25,3% vào năm 2013. Nhóm các bệnh không lây nhiễm tăng từ 42,6% năm 1976 lên 71,5% năm 2010 và giảm xuống 63,5% năm 2013.
Tỷ lệ tử vong do mắc bệnh không lây nhiễm tăng nhanh từ 45,5% năm 2010 lên 69,63% năm 2013, chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là tai nạn, ngộ độc, chấn thương (18,15%) và các bệnh lây nhiễm (12,23%). Nhận thức được tầm quan trọng của chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế và đứng trước những khó khăn, tồn tại trong quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội , đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đề tài này, ví dụ như “Tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế của Thành phố Hà Nội”, “ Quản lý chi ngân sách Nhà nước cho các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế”. Những luận văn nghiên cứu này đa phần đã nói lên khá đầy đủ những thực trạng quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho Y tế tại Sở Y tế tại Hà Nội và Y tế nói chung. Tuy nhiên, đề tài về “Quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho các cơ sở khám chữa bệnh thuộc Bộ y tế trên địa bàn Hà Nội” vẫn chưa được nghiên cứu sâu và cụ thể như công trình nghiên cứu sau đây của tôi 1.
Những vấn đề lý luận về quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập. Khái quát về NSNN và chi NSNN Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là cơ sở vật chất cho Nhà nước tồn tại, hoạt động cũng như thực hiện các chức năng của mình. NSNN là dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian 4 nhất định thường là một năm. Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của Quốc gia, trong đó bao gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối.
Theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”. Có thể tóm tắt một số đặc điểm chủ yếu của NSNN như sau: Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước và phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở luật định. Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản tài chính khác. Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính chất cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”.
Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước để tạo quỹ NSNN như pháp luật về thuế; đồng thời có các chế độ chi tiêu nhằm sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả cho những mục tiêu nhất định. Các hoạt động thu chi NSNN cũng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước. Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khi đưa vào sử dụng, chủ thể sử dụng các quỹ này là những đơn vị sử dụng NSNN được quyền sử dụng Ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ và các quy định về Ngân sách do Nhà nước ban hành. Việc phân phối NSNN thành các quỹ nhỏ với mục đích khác nhau chính là quá trình sử dụng NSNN nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước, không trực tiếp chi dùng từ quỹ tiền tệ tập trung.
Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại bằng các khoản chi của NSNN. Điều này được quyết định bởi các chức năng tổng hợp về kinh tế - xã hội của Nhà nước. Đặc điểm này phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.
5 Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận. Quy mô, cơ cấu chi NSNN như thế nào là tuỳ thuộc vào từng Nhà nước và mục tiêu phát triển của quốc gia trong từng thời kỳ. Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN thể hiện: Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu NSNN là nguồn vốn đảm bảo nhu cầu chi NSNN.
Ngược lại vốn NSNN chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân. Phân loại chi Ngân sách Nhà nước là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm theo tiêu thức nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng chi NSNN. Thông thường phân loại chi NSNN được dựa trên các tiêu thức chủ yếu sau: 1.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động: Chi đầu tư kinh tế: là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng nền sản xuất xã hội. Khoản chi này có vai trò điều tiết quan trọng, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, tạo ra sự tác động tổng hợp, kích thích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, tạo thế cân bằng cho nền kinh tế. Chi cho y tế bao gồm các khoản chi để duy trì và mở rộng hoạt động y tế. Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển hoạt động giáo dục, đào tạo Chi cho phúc lợi xã hội: là những khoản chi mà xã hội cần chính phủ quan tâm, giúp đỡ.
Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, người lao động chưa có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa, cho thương binh, gia đình liệt sĩ Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội. Hội đồng nhân dân, viện kiểm soát nhân dân, tóa án nhân dân, chi về ngoại giao. Chi cho An ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực lượng vũ 6 trang và công tác bảo vệ trị an trong nước. Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi Ngân sách Nhà nước được phân thành: Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu động cho các doanh nghiệp Nhà nước, chi dự trữ.
Chi tiêu dùng: Chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tích lũy bao gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp, chi bù giá và chi khác 3. Căn cứ vào yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi, chi Ngân sách Nhà nước được phân thành 3 nhóm: Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, bao gồm: chi lương và các khoản có tính chất tiền lương, cho bổ sung quỹ hưu trí, chi công vụ phí, chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữa thường xuyên, chi trợ cấp, bù giá, chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước, chi cho quỹ dự trữ thường xuyên, dự bị phí. Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm: chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Nhà nước hoặc các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tư cho nước ngoài. Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vay nước ngoài.) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước) Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chi Ngân sách Nhà nước được phân loại dựa vào tiêu thức mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, phân thành 2 nhóm lớn là chi tích lũy và chi tiêu dùng.
Việc phân loại này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phân tích đánh giá kết quả chi tiêu Ngân sách Nhà nước gắn với quá trình phân phối thu nhập quốc dân và phù hợp với cơ chế hiện hành. Kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển mình sang cơ chế mới, vận hành theo cơ chế thị trường, cách phân loại này bắt đầu bộc lộ một số nhược điểm đó là: Thứ nhất, nó không thể hiện được mối quan hệ giữa chi tiêu tài chính của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, từ đó, gây khó khăn cho cuộc tìm kiếm phương án phân phối phù hợp trong từng thời kỳ. Thứ hai, không phù hợp với cơ chế mới và thông lệ quốc tế. 7 Thứ ba, thuật ngữ tích lũy cũng rất trìu tượng, dễ dẫn đến tranh cãi trong việc sắp đặt một số khoản chi, chẳng hạn như: các khoản chi dự trữ, chi bù lỗ, bù giá.có tài liệu đưa vào phần chi tích lũy, có tài liệu lại đưa vào phần chi tiêu dùng.
Xuất phát từ đó, việc tìm kiếm một phương thức phân loại mới, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu đổi mới chung của nền KTXH, đồng thời thừa hưởng được những kinh nghiệm đã tích lũy lâu nay ở nước ta bắt đầu được đặt ra.