Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và định hƣớng nghiên cứu của luận án; Chương 2: Lý luận cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản trong quân đội; Chương 3: Thực trạng quản lý chi Ngân sách Nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản ở Quân chủng Phòng không - Không quân; Chương 4: Hoàn thiện quản lý chi Ngân sách Nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản ở Quân chủng Phòng không - Không quân. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu liên quan đến phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản (1) Đặng Đức Anh (2013), luận án tiến sĩ kinh kế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, nghiên cứu “Đánh giá thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam”, [1] đã nêu khái quát về tình hình phân cấp NSNN, những kết quả đạt đƣợc, những tồn tại/hạn chế và đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam.“Thực trạng và giải pháp”.
Nội dung của luận án bàn về bản chất và nội dung của phân cấp ngân sách, các mô hình quản lý ngân sách, các nguyên tắc, tiêu chí và mức độ phân cấp ngân sách, những lợi ích và rủi ro trong quá trình phân cấp ngân sách, kinh nghiệm phân cấp quản lý ngân sách đối với chính quyền địa phƣơng (ĐP); đánh giá về phân cấp ngân sách đối với chính quyền ĐP trên các nội dung về thu chi ngân sách, quy trình ngân sách, đinh mức phân bổ và chỉ tiêu ngân sách và các định hƣớng, mức độ, nguyên tắc và giải pháp tăng cƣờng phân cấp ngân sách đối với các địa phƣơng. Đây là công trình nghiên cứu quan trọng cho thấy cái nhìn tổng quan phân cấp ngân sách nói chung và đầu tƣ XDCB nói riêng. (2) Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Ngọc Hải (2020) với đề tài “Phân bổ và cấp phát sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Tỉnh Lai Châu” [58], Đại học Thƣơng mại, Hà Nội, đã phân tích thực trạng phân bổ và cấp phát sử dụng vốn NSNN cho DAĐT XDCB của tỉnh Lai Châu theo nội dung quản lý, tiêu chí đánh giá, chỉ ra ba kết quả đạt đƣợc, bốn hạn chế trong hoạt động phân bổ và cấp phát sử dụng vốn NSNN của tỉnh. Trong đó, “chƣa xác định đƣợc thứ tự ƣu tiên trong hệ thống mục tiêu kế hoạch” dẫn đến công tác xây dựng và điều chỉnh kế hoạch VĐT XDCB còn chậm là một hạn chế, vƣớng mắc cơ bản mà tỉnh Lai Châu cần tập trung, giải quyết trong thời gian tới.
Từ kết quả nghiên cứu định lƣợng, luận án cho thấy có 7 sáu yếu tố tác động đến hoạt động phân bổ và cấp phát sử dụng vốn NSNN cho DAĐT XDCB tại tỉnh Lai Châu và sắp xếp thứ tự các yếu tố theo mức độ tác động từ cao đến thấp đó là: hệ thống pháp luật, môi trƣờng bên ngoài, nguồn vốn thực hiện DA, tính tuân thủ quy định pháp luật, năng lực bộ máy QLNN và năng lực các bên tham gia DA. Từ đó tác giả đề xuất năm nhóm giải pháp đối với tỉnh Lai Châu và bốn kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, bộ ngành liên quan. Trong đó một số giải pháp trọng tâm đó là: Hoàn thiện cơ chế chính sách thuộc thẩm quyền của tỉnh chặt chẽ, phù hợp thực tế; nâng cao khả năng tự cân đối NSĐP và nâng cao năng lực của các cơ quan QLNN địa phƣơng. Luận án đã tập trung nghiên cứu và luận giải về cơ sở lý luận của phân cấp quản lý đầu tƣ XDCB sử dụng nguồn NSNN, cụ thể: luận án đã chỉ ra đƣợc nội dung phân cấp quản lý đầu tƣ XDCB nguồn vốn ngân sách, bao gồm: phân cấp trong công tác quy hoạch; phân cấp trong công tác lập kế hoạch đầu tƣ XDCB; phân cấp trong công tác phân bổ và giao kế hoạch vốn đầu tƣ XDCB; phân cấp trong chuẩn bị đầu tƣ, phê duyệt, thẩm định và quyết định đầu tƣ dự án; phân cấp trong công tác quyết toán, theo dõi, kiểm tra, giám sát công trình đầu tƣ.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về phân cấp quản lý đầu tƣ xây dựng sử dụng nguồn NSNN, tác giả đã chỉ ra rằng khung phân cấp quản lý NS của Nhà nƣớc cũng nhƣ thể chế pháp lý hay các văn bản quy phạm pháp luật về phân cấp đầu tƣ đã chi phối đến các quyết định đầu tƣ, dự toán thu chi và phân bổ NS từ đó tác động mạnh mẽ đến công tác phân cấp quản lý đầu tƣ XDCB sử dụng nguồn NSNN; thêm vào đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nƣớc cũng nhƣ sự minh bạch của CQĐP cũng tác động lớn đến những chủ trƣơng đầu tƣ của địa phƣơng, và do đó cũng ảnh hƣởng đến công tác phân cấp quản lý đầu tƣ XDCB sử dụng nguồn NSNN. Từ đó, tác giả đã đề ra 4 nhóm giải pháp chính: (1) Hoàn thiện khung phân cấp quản lý đầu tƣ XDCB trong tổng thể phân cấp quản lý NSNN; (2) Tăng cƣờng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và điều hòa NSNN; (3) Tăng cƣờng phân cấp trong quy trình NS và (4) Tăng cƣờng công tác cán bộ, trách nhiệm giải trình và phối hợp. Bên cạnh đó, luận án 8 cũng đề xuất thêm nhóm giải pháp nhằm tiến tới minh bạch hóa quá trình phân cấp, thực hiện phù hợp với chích sách phát triển của thành phố cũng nhƣ nâng cao năng lực của chính quyền địa phƣơng. Luận án khẳng định tính ƣu việt của phƣơng thức lập và phân bổ tài chính đầu tƣ cơ sở vật chất giáo dục phổ thông công lập theo nhiệm vụ, kết quả đầu ra gắn với kết quả công việc.
Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá thực trạng tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012, tác giả gợi ý một hệ thống bốn nhóm giải pháp, gồm: Hoàn thiện thể chế phân bổ, sử dụng các nguồn tài chính; cơ cấu lại các khoản tài chính để đầu tƣ cho giáo dục phổ thông công lập trên cơ sở xây dựng tiêu chí xác định các ƣu tiên đầu tƣ; nâng cao năng lực bộ máy quản lý tài chính ĐTXD cho giáo dục phổ thông công lập; công khai minh bạch tài chính gắn với trách nhiệm từng ví trí việc làm cụ thể. (5) Nghiên cứu của Nguyễn Huy Chí (2016) với đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ quản lý công, Học viện hành chính quốc gia [5] đã chỉ ra rằng việc phân cấp đồng loạt và đại trà, phân bổ ngân sách không ràng buộc trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách với đơn vị cấp vốn là nguyên nhân dẫn đến việc lập và phân bổ kế hoạch ngân sách cho đầu tƣ xây dựng dài trải. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp về đổi mới nhận thức về chức năng quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động đầu tƣ xây dựng cơ bản, hoàn thiện khung pháp lý và đổi mới công tác lập kế hoạch chi NSNN cho đầu tƣ xây dựng cơ bản, trong đó xây dựng phƣơng thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, xóa bỏ triệt để cơ chế xin cho trong phân bổ dự toán chi ngân sách. Đồng quan điểm, Trịnh Thị Thúy Hồng (2012) đã khái quát lý luận về đầu tƣ xây dựng cơ bản, từ đó nhấn mạnh chi và quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản là cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh.
Nội dung quản lý chi đƣợc tiếp cận theo chu trình ngân sách nhà nƣớc, trong đó tác giả đã so sánh các phƣơng thức lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc khác nhau, từ đó khẳng 9 định phƣơng thức lập dự toán theo kết quả đầu ra là có nhiều ƣu điểm và là xu hƣớng tất yếu đƣợc áp dụng trong quản lý chi NSNN nói chung và chi NSNN trong đầu tƣ xây dựng cơ bản nói riêng. Các nghiên cứu liên quan đến lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc cho đầu tƣ xây dựng cơ bản (6) Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn văn Thập (2019) Luận án tiến sĩ kinh tế “Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước trong ngành công an Việt Nam” [82] đã chỉ ra rằng việc qui hoạch chƣa đầy đủ, gây khó khăn trong việc xác định dự án đầu tƣ, một số dự án chƣa bám sát qui hoạch đƣợc duyệt hoặc các qui hoạch chƣa đƣợc điều chỉnh kịp thời dẫn đến việc lập kế hoạch đầu tƣ còn dàn trải, chƣa tập trung đồng bộ, gây giảm hiệu quả vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. Từ đó tác giả đề xuất nhóm giải pháp về hoàn thiện xây dựng quy hoạch, gồm: (i) tập trung tuyên truyền trong lãnh đạo và cán bộ làm công tác quản lý đầu tƣ XDCB trong ngành công an nắm rõ các quy định của Luật quy hoạch, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về công tác quy hoạch, đặc biệt là về quy hoạch sử dụng đất an ninh; (ii) tăng cƣờng kiểm tra, hƣớng dẫn các đơn vị công an cơ sở về nghiệp vụ quy hoạch đầu tƣ, về công tác đo đạc, thống kê, báo cáo theo các nội dung quy định của Nhà nƣớc và của ngành công an; (iii) bổ sung các cán bộ đƣợc đào tạo chuyên ngành về kiến trúc, xây dựng cho các đơn vị quản lý và các đơn vị cơ sở để đảm bảo thực hiện tốt từ khâu ra đề bài, lập, báo cáo, thẩm định các quy hoạch cơ sở công an các cấp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác quy hoạch trong CAND; (iv) kịp thời theo dõi, hƣớng dẫn để điều chỉnh kịp thời các quy hoạch khi có sự thay đổi về quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh hoặc có sự thay đổi về tổ chức của các đơn vị trong CAND; (v) tập trung thực hiện nghiêm quy hoạch đƣợc phê duyệt.