Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Cao Bằng Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Cao Bằng đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1. Chi đầu tƣ xây dựng cơ bản và sự cần thiết của quản lý chi đầu tƣ xây dựng cơ bản 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản 1.
Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản Theo Luật Đầu tư của Việt Nam (2014): Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn; mua cổ phần; phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Theo bách khoa toàn thư Việt Nam: “Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính.
Còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản bị loại trừ. Việc gia tăng tư bản tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã hội được gọi là đầu tư công cộng. Mặc dù đầu tư làm tăng năng lực sản xuất (phía cung của nền kinh tế), song việc xuất tư bản để đầu tư lại được tính vào tổng cầu.
Đầu tư tư nhân I và đầu tư công cộng G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y trong phương trình: Y = c + I + G + X - M (với c là tiêu dùng cá nhân, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu)”. Vậy, mặc dù các khái niệm trên có diễn giải khác nhau nhưng chúng cùng thống nhất một nghĩa: đầu tư là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động nhất định, hy vọng thu được những kết quả và đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định (TSCĐ) có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất 7 các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản ĐTXDCB có những đặc điểm nổi bật được biểu hiện thông qua sản phẩm của nó đó là công trình xây dựng. “Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với đất (bao gồm cả khoảng không, mặt đất, mặt biển và thềm lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động.” Công trình xây dựng bao gồm một hạng mục hoặc nhiều hạng mục công trình nằm trong dây chuyền công nghệ đồng bộ, hoàn chỉnh. Công trình XDCB có những đặc điểm như sau: Một là, Sản phẩm ĐTXDCB là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào khai thác sử dụng. Sản phẩm XDCB chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng.
Chính vì vậy, quản lý đầu tư xây dựng các công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng công trình được xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình. Hai là, Sản phẩm ĐTXDCB có tính đơn chiếc, mỗi hạng mục công trình có một thiết kế và dự toán riêng tuỳ thuộc vào mục đích đầu tư và điều kiện địa hình, địa chất. của nơi đầu tư xây dựng công trình quyết định đến quy hoạch, kiến trúc, quy mô, kết cấu khối lượng, quy chuẩn xây dựng, giải pháp công nghệ thi công. và dự toán chi phí đầu tư của từng hạng mục công trình, công trình.
Vì vậy, việc quản lý và cấp vốn ĐTXDCB phải gắn với từng hạng mục công trình, công trình xây dựng nhằm quản lý chặt chẽ về chất lượng xây dựng và vốn đầu tư. Ba là, Sản phẩm ĐTXDCB là các công trình xây dựng thường có vốn đầu tư lớn, được tạo ra trong một thời gian dài. Vì vậy, quản lý và cấp vốn ĐTXDCB phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tư phù hợp nhằm đảm bảo tiền 8 vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng thất thoát vốn đầu tư, bảo đảm cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện liên tục đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định. Bốn là, ĐTXDCB được tiến hành trong tất cả ngành kinh tế quốc dân, các khu vực kinh tế xã hội nên sản phẩm XDCB có nhiều loại hình công trình và mỗi loại hình công trình có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật riêng.
Quản lý và cấp vốn ĐTXDCB phải phù hợp với đặc điểm của từng loại hình công trình nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Năm là, ĐTXDCB thường được tiến hành ngoài trời nên luôn chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thời tiết và lực lượng thi công xây dựng công trình thường xuyên phải di chuyển theo nơi phát sinh nhu cầu đầu tư xây dựng các công trình. Quản lý và cấp vốn ĐTXDCB phải thúc đẩyquá trình tổ chức hợp lý các yếu tố về nhân lực, máy móc thi công. nhằm giảm bớt những lãng phí, thiệt hại về vật tư và tiền vốn trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình.
Những đặc điểm của ĐTXDCB nêu trên cho thấy tính đa dạng và phức tạp của ĐTXDCB. Những đặc điểm này có tác động chi phối đến sự vận động của vốn ĐTXDCB đòi hỏi cần có cách thức tổ chức quản lý và cấp phát vốn phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư. Chính vì vậy, quản lý chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN cần phải có những nguyên tắc, biện pháp và trình tự quản lý cấp phát vốn dựa trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của ĐTXDCB. Toàn bộ hoạt động của quá trình đầu tư và xây dựng một dự án đầu tư từ khi bắt đầu đến khi kết thúc đưa vào khai thác sử dụng được chia thành ba giai đoạn kế tiếp nhau theo thời gian: Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
9 Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác; Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. Đặc điểm của chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước Chi ĐTXDCB của NSNN là các khoản chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của doanh nghiệp Nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt… Bản chất của chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân. Chi ĐTXDCB là một khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của NSNN, do đó đặc điểm chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN cũng giống như đặc điểm của chi đầu tư phát triển, đó là: Thứ nhất, Chi ĐTXDCB là khoản chi lớn của NSNN nhưng không có tính ổn định. Chi ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Trước hết chi ĐTXDCB của NSNN nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của nền kinh tế; đó chính là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia, đồng thời chi 10 ĐTXDCB của NSNN còn có ý nghĩa là vốn mồi để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển các hoạt động KT-XH theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ. Quy mô và tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư phát triển trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương đường lối phát triển KT-XH của Đảng, Nhà nước và khả năng nguồn vốn của NSNN. Đối với Việt Nam, mặc dù khả năng của NSNN còn hạn chế, song Nhà nước luôn có sự ưu tiên NSNN cho chi ĐTXDCB. Chi ĐTXDCB là một khoản chi lớn của NSNN (thường chiếm khoảng trên, dưới 30%) trong tổng chi NSNN.
Tuy vậy, cơ cấu chi ĐTXDCB của NSNN lại không có tính ổn định giữa các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội.