phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, Danh mục những từ viết tắt và phụ lục các bảng biểu số liệu còn bao gồm: Chƣơng 1: Cở sở lý luận về quản lý chi đầu tƣ XDCB ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 7 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chi đầu tƣ XDCB trong ngân sách nhà nƣớc tại huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi đầu tƣ trong ngân sách nhà nƣớc tại huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ XDCB NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƢ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Một số vấn đề ung về ngân sá n à nƣớ : a.
Khái niệm Ngân sách nhà nước: “Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Đƣợc quy định tại khoản 14, Điều 4, Luật Ngân sách nhà nƣớc năm 2015. Ngân sách trung ƣơng: “Là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp trung ƣơng hƣởng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ƣơng”. Đƣợc Quy định tại khoản 15, Điều 4, Luật Ngân sách nhà nƣớc năm 2015.
Ngân sách địa phƣơng: “Là các khoản thu ngân sách nhà nƣớc phân cấp cho cấp địa phƣơng hƣởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ƣơng cho ngân sách địa phƣơng và các khoản chi ngân sách nhà nƣớc thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phƣơng”. Đƣợc Quy định tại khoản 13, Điều 4, Luật Ngân sách nhà nƣớc năm 2015. Thực chất Ngân sách nhà nƣớc (NSNN): “Dùng để phản ánh các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình lập, phân phối, bố trí sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nƣớc khi Nhà nƣớc tham gia vào việc phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc trên cơ sở pháp luật quy định. NSNN bao gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng.
9 Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách của các đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND)”. Hệ thống Ngân sách nhà nước NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia gồm: Tài chính nhà nƣớc (TCNN), tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. Tài chính nhà nƣớc là khâu chính và chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
TCNN tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. TCNN thực hiện việc huy động và tập hợp một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác, chủ yếu là qua thu thuế và các khoản thu mang tính chất thuế. Việc phân cấp quản lý Ngân sách nhà nƣớc là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nƣớc phù hợp với phân cấp quản lý 10 KT-XH. Qua đó giúp Nhà nƣớc kiểm soát đƣợc mọi hoạt động liên quan đến NSNN.
Đặc điểm của Ngân sách Nhà nước: NSNN luôn gắn liền, chặt chẽ với sở hữu là Nhà nƣớc và chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu-chi của NSNN và hoạt động thu-chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nƣớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nƣớc với các tổ chức KT-XH, các tầng lớp dân cƣ trong xã hội. NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Hệ thống tài chính quốc gia gồm: tài chính nhà nƣớc, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình.
Tài chính nhà nƣớc là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. TCNN tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền KTXH. Tài chính nhà nƣớc thực hiện việc huy động và tập hợp một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác, chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế. Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước: - Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Trong các hoạt động ngân sách điều này là hết sức quan trọng.
Đây chính là bảo đảm sự thống nhất về ý chí và lợi ích qua việc huy động và phân bổ ngân sách các cấp để có đƣợc những hàng hoá, dịch vụ công cộng mang tính chất quốc gia. Ngoài ra, nó còn đảm bảo phát huy tính chủ động, hiệu quả và sáng tạo của các địa phƣơng, các tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh và những cơ sở cụ thể. Tập trung ở đây không phải là sự độc đoán, chuyên quyền mà dựa trên cơ sở phát huy tính dân chủ thực sự trong các tổ chức hoạt động ngân sách của các cấp chính quyền địa phƣơng, các ngành, các đơn vị. Nguyên tắc này đƣợc quán triệt thông qua một sự phân công và phối hợp chặt 11 chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nƣớc đã đƣợc phân cấp cụ thể.
- Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí và thực hiện công khai, minh bạch: “Công khai là để cho mọi ngƣời biết, không giữ kín. Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu, không thể nhầm lẫn đƣợc. Việc quản lý ngân sách đòi hỏi phải công khai, minh bạch nó xuất phát từ việc đòi hỏi chính đáng của ngƣời dân với tƣ cách là ngƣời đóng thuế cho Nhà nƣớc. Việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả NSNN là vấn đề mang tính thiết yếu trong mọi chế độ quản lý để phát triển KT-XH, vừa là mục tiêu, tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả trong các hoạt động quản lý, giúp cho việc hoàn thành các mục tiêu với mức chi phí tối thiểu nhất.
Ngoài ra, việc thực hiện công khai, minh bạch không những làm cho mọi hoạt động đƣợc rõ ràng, dễ hiểu, không có sự nhầm lẫn mà còn tạo niềm tin và đảm bảo tính toàn diện, khách quan đƣợc xuất phát từ nhu cầu chính đáng của ngƣời dân”. - Nguyên tắc kết hợp quản lý theo từng nghành, lãnh thổ, địa phƣơng: Do điều kiện đặc thù ở mỗi địa phƣơng khác nhau nên dẫn đền từng cấp quản lý khác nhau, từng nhiệm vụ chi và nguồn thu cũng khác nhau, để phù hợp với tình hình thực tế trong từng cấp và từng địa phƣơng khác nhau. - Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: “Việc cân đối trong ngân sách nhà nƣớc thể hiện sự hài hòa trong việc quản lý thu – chi, xuất phát từ tính chất khách quan trong vai trò của nhà nƣớc có sự can thiệp vào nền kinh tế thị trƣờng nhằm mục đích mang lại sự ổn định, hiệu quả và công bằng cho xã hội. Thông thƣờng, khi tiến hành thực hiện thì các khoản thu dự kiến sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc.
Vì vậy, khi tính toán nhu cầu chi cần phải sát với khả năng thu trong lập dự toán ngân sách là điều hết sức quan trọng. Các khoản chi chỉ đƣợc phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu đối ứng lại. Đối với một nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam nguyên tắc này đã đƣợc quán triệt chặt chẽ trong quá trình quản lý ngân sách 12 trong các khâu: lập dự toán NSNN, tổ chức chấp hành, phân bổ dự toán và quyết toán ngân sách cũng nhƣ trong quá trình phân cấp ngân sách cho các địa phƣơng”. K á n ệm và đặ đ ểm ủ quản lý đầu tƣ xây ựng ơ bản NSNN K á n ệm Khái niệm chi tiêu công về lý thuyết và thực tế, có quan hệ trực tiếp và không thể tách rời các hoạt động của Nhà nƣớc nhằm hai mục đích sau: Cải thiện phân phối thu nhập trong xã hội, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Chi tiêu công cũng có nghĩa là giá trị của hàng hóa và dịch vụ đƣợc Nhà nƣớc và các cơ quan nhà nƣớc mua sắm. Chi tiêu công không bao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp nhà nƣớc. Tóm lại, trên quan điểm của các nhà quản lý ngân sách, có thể hiểu, chi NSNN (hay chi tiêu công) là những khoản chi tiêu do Chính phủ hoặc các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt đƣợc các mục đích công ích, nhƣ: thực hiện các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ an ninh và trật tự, trợ giúp kinh tế… hay nói cách khác: “chi ngân sách là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Từ đây rút ra khái niệm nhƣ sau: “Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản NSNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình trong xã hội và các hành vi hoạt động đầu tư của con người; do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ để các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng nhiệm vụ của người đại diện sở hữu vốn Nhà nước trong các dự án đầu tư; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực và kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng nguồn vốn nhà nước 13 tránh gây thất thoát, lãng phí NSNN”.
Quản lý chi đầu tƣ XDCB NSNN là sự tác động có tổ chức và mục đích của Nhà nƣớc vào đối tƣợng quản lý để điều khiển đối tƣợng quản lý nhằm sử dụng vốn đầu tƣ thuộc NSNN có hiệu quả cao nhất. - Bộ máy quản lý chi đầu tƣ XDCB NSNN ở địa phƣơng: “Theo Hiến pháp, quản lý chung về tài chính trên phạm vi của cả nƣớc thuộc Quốc Hội và Chính phủ; ở địa phƣơng là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, còn quản lý các hoạt động liên quan đến nghiệp vụ tài chính là trách nhiệm của bộ máy tổ chức các cơ quan quản lý tài chính (Sở tài chính cấp tỉnh, Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện và Ban tài chính cấp xã), các tổ chức quản lý tài chính chuyên ngành (Kho bạc nhà nƣớc các cấp) thực hiện toàn bộ các công việc quản lý tài chính công nói chung, trong đó có quản lý chi đầu tƣ XDCB NSNN nói riêng”.