CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC NGÀNH 1. Tổng quan về nhân lực và chất lượng nhân lực 1. Khái niệm về nhân lực Theo tiến trình phát triển quan niệm nhân lực con người được xem là vấn đề quan trọng, là mối quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia, vì nhân lực con người là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra quyết định sự cạnh tranh của đất nước. Vấn đề nâng cao nhân lực ngày càng được chú trọng trong quá trình công cuộc cách mạng 4.0 và toàn cầu hóa hiện nay.
Thực tế đã chứng minh, khi NKT tri thức đem đến những cơ hội phát triển, tạo bước ngoặt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế gần đây cũng chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là yếu tố con người. Như vậy có thể nói rằng “nhân lực con người là tổng hòa TL và trí lực tồn tại trong toàn bộ con người đó nói riêng và tổng hòa của TL và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng LĐ xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm LĐ sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước nói chung”. Vì vậy, con người được coi là yếu tố cốt lõi cho sự phát triển của đất nước.
Đầu tư vào phát triển nhân lực con người chính là đầu tư chiến lược, hướng đến sự phát triển bền vững. Trong nghiên cứu, nhân lực vẫn còn nhiều ý kiến và quan điểm tiếp cận khác nhau tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả nêu một số quan điểm điển hình như sau: Nhân lực, theo tác giả Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (đồng chủ biên) trong giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường ĐH Kinh tế Quốc dân (2008) là “sức lực của con người nằm trong mỗi con người giúp cho con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình LĐ (con người có sức LĐ)”. Những quan điểm và phân tích nhân lực nêu trên có thể hiểu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 “Nhân lực là tổng hòa TL và trí lực tồn tại trong toàn bộ con người đó, làm cho họ có thể hoạt động gọi là sức lực và sức lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người, đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình LĐ”. Khái niệm về CLNL Về bản chất, CLNL là “yếu tố tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, TL, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác, trình độ học vấn, tình trạng SK, trình độ CM kỹ thuật…thể hiện CLNL”. Trong đó: Trí lực được xem là NL của trí tuệ là trình độ hiểu biết của người LĐ, tồn tại bên trong con người như tài năng, năng khiếu do thiên bẩm và qua quá trình phấn đấu học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân tạo nên.
Thể lực của người LĐ chỉ SK của cơ thể lẫn tinh thần. TL chính là điều kiện đ ể duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn v à biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Sức mạnh trí tuệ phát huy được lợi thế khi TL con người được đảm bảo và phát triển. Phong cách đạo đức, lối sống tinh thần hay ý thức là các giá trị về đạo đức, tác phong, tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc.
Theo Bùi Văn Nhơn, CLNL là trạng thái nhất định của nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là yếu tố phản ánh trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người LĐ trong quá trình làm việc. Theo Đỗ Văn Phức, CLNL của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực về mặt toàn bộ và về mặt đồng bộ (cơ cấu) các loại. Nhu cầu nhân lực cho hoạt động của doanh nghiệp là toàn bộ và cơ cấu các loại khả năng LĐ cần thiết cho việc thực hiện, hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ của doanh nghiệp trong thời gian trước mắt và trong tương lai xác định.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài CLNL được hiểu là: CLNL là mức độ đáp ứng yêu cầu công việc về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của người LĐ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các tiêu chí đánh giá CLNL của ngành Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập KTQT, quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công LĐ diễn ra ngày càng sâu sắc, việc tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với các NKT. Do đó CLNL sẽ là yếu tố quyết định nâng cao NL cạnh tranh và tạo sự thành công của mỗi quốc gia.
CLNL là toàn bộ NL của lực lượng LĐ được biểu hiên thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành CLNL. Trong đó, thể lực là nền tảng và phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ là yếu tố quyết định CLNL, ý thức giúp chuyển hóa của TL trí tuệ thành thực tiễn. Cụ thể như sau: - Thể lực - Trí lực - Đạo đức, phẩm chất hay ý thức Thứ nhất, thể lực: Thể lựcTL (TL) là tình trạng SK của con người bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo được sự hài hòa giữa bên trong và ngoài.
CLNL được cấu thành bởi NL tinh thần và NL thể chất, tức là nói đến sức mạnh và tính hiệu quả của những khả năng đó, trong đó NL thể chất chiếm vị trí vô cùng quan trọng. hể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, dẻo dai của SK trong công việc; TL chính là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu được sức ép của công việc cũng như không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu mới. TL của con người được hình thành, nuôi dưỡng và phát triển bởi chế độ và quá trình dinh dưỡng, chế độ chăm sóc SK. Vì vậy, TL của con người phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH, phân phối thu nhập cũng như chính sách xã hội của mỗi quốc gia.
Trạng thái SK của nguồn nhân lực được xem là nhân tố biểu hiện về TL của họ. SK của nguồn nhân lực là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người thực hiện công việc. Các yếu tố thể hiện SK của nguồn nhân lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 được biểu hiện thông qua các tiêu chuẩn đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác quan nội, ngoại, thần kinh, thính giác, khứu giác…Bên cạnh đó TL để đánh giá được còn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: tỷ lệ sinh, chết, biến động tự nhiên, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã nêu: “SK là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thương tật.
TL là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh thần (SK cơ thể và SK tinh thần). TL là NL LĐ chân tay; SK tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực tiễn. TL được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc SK”. Thứ hai, trí lực: Tri thức chính là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát của kinh nghiệm từ cuộc sống, và nhận thức lý tính.
Nắm bắt được nó sẽ có lợi trong thực tiễn và nâng cao khả năng phân tích cũng như lý giải vấn đề. Trí lực là sự kết tinh của tri thức, bao gồm cả việc chắt lọc, cải tạo và sáng tạo ra tri thức. Đối với những người theo chủ nghĩa Mác, trí lực là NL nhận thức và cải tạo thế giới. Như thế có nghĩa là loại NL ấy phải lấy tri thức để tiến hành làm khoa học và LĐ làm nội dung.
Trí lực ngoài việc chiếm giữ tri thức ra còn phải có một PP tư duy khoa học và kỹ năng chuyên nghiệp. Trí lực có thể được xem xét phân tích theo hai góc độ sau: - Trình độ văn hóa được xem như là khả năng về tri thức và kỹ năng để tiếp thu những kiến thức cơ bản để duy trì sự sống ở hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy và quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân. - Trình độ CMNV là kiến thức và kỹ năng cần thiết có thể đáp ứng được các yêu cầu công việc của vị trí đang đảm nhận. Trình độ CM của nhân lực là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá CLNL, bởi lẽ trình độ học vấn cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 những tiến bộ KH-KT vào thực tiễn sáng tạo ra những ý tưởng sản phẩm mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành đó nói riêng và nền KT-XH nói chung.
Khi nói tới nhân lực, kinh nghiệm sống, NL hiểu biết thực tiễn cũng là một khía cạnh rất quan trọng, bởi lẽ kinh nghiệm của con người, là nhu cầu và thói quen vận dụng tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm tòi, ứng dụng đổi mới các hoạt động, các giải pháp mới trong công việc. Nói đến nhân lực thì yếu tố quan trọng không thể bỏ qua đó là phẩm chất đạo đức, thái độ và phong cách làm việc. Trước đây chúng ta quan niệm nhân lực đơn giản chỉ là sức người với TL và trí lực của họ còn theo quan điểm khoa học hiện đại ngày nay, các doanh nghiệp khi thực hiện tuyển dụng đều tìm kiếm những ứng viên mà ngoài trình độ CMNV (thường được thể hiện qua bằng cấp, khả năng học vấn…) còn có những kỹ năng mềm khác hỗ trợ cho công việc.