Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CỦA MẠNG LƯỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á (AUN) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Đảm bảo chất lượng trường đại học (ĐH) đã và đang được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) trên thế giới. Ngay từ thế kỷ thứ XIII, Đại học Paris đã tổ chức triển khai công tác đảm bảo chất lượng (ĐBCL) bên trong nhà trường.
Tại Mỹ, kiểm định được đưa vào giáo dục y khoa từ cuối thế kỷ thứ XIX và các tổ chức kiểm định chất lượng (KĐCL) cũng ra đời ở Mỹ nhưng chưa đi sâu vào ĐBCL giáo dục. Trước đây, mô hình kiểm soát chất lượng (KSCL) thường được sử dụng để kiểm tra chất lượng và mô hình này có nguồn gốc từ sản xuất hàng hóa. Lý thuyết chủ đạo của hệ thống ĐBCL xuất phát từ lĩnh vực kinh doanh sau đó được đưa vào giáo dục. Đến những năm 90 của thế kỷ 20 trên thế giới đã có hơn 100 nước có hệ thống ĐBCL GDĐH nhằm thích ứng với sự phát triển về quy mô của GDĐH (đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của GDĐH đại chúng và sự gia tăng của GDĐH tư thục), khi nhiều nước trên thế giới phải trải qua những biến động lớn, đòi hỏi phải có những thay đổi trong hệ thống GDĐH ở nước họ.
Việc ĐBCL được nhận thức và thực hiện rất khác nhau giữa các quốc gia. Ví dụ, ở Mỹ, ĐBCL là một quy trình đánh giá một cơ sở hay một chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn về GDĐH, học thuật và cơ sở hạ tầng có được duy trì và tăng cường hay không (CHEA, 2001). SEAMEO nhìn nhận ĐBCL từ sự kết hợp các quan niệm từ năm 1985 đến 1998, ĐBCL các mặt hoạt động trong cơ sở giáo dục được duy trì và không ngừng nâng cao (thể hiện tính chất của quản lý chất lượng tổng thể TQM) (SEAMEO, 2002). INQAAHE cho rằng ĐBCL là các thái độ, đối tượng, hoạt động và thủ tục Luan van 10 cùng các hoạt động KSCL, đảm bảo chuẩn học thuật phù hợp đang được duy trì và nâng cao (INQAAHE, 2005).
UNESCO thừa nhận ĐBCL là một quá trình xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan đến các điều khoản (đầu vào, quá trình và đầu ra) đáp ứng sự mong đợi hoặc đạt ngưỡng yêu cầu tối thiểu (ASEAN, 2011). ĐBCL liên quan đến sự phát triển liên tục, quy trình đánh giá liên tục gồm đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao chất lượng. Nó mang đặc trưng của TQM với hai mục đích quan trọng cần tập trung là trách nhiệm giải trình và cải tiến liên tục. Trong hệ thống ĐBCL, UNESCO nhấn mạnh ba yếu tố: kiểm soát chất lượng, trách nhiệm giải trình và cải tiến (dựa trên ba nguyên tắc chính trong ĐBCL của Harvey (Harvey, 1999).
Việc ĐBCL ở các nước Đông Nam Á cũng rất khác nhau. Ở Thái Lan, ĐBCL được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra chất lượng (CL) nhà trường, kiểm toán CL bên ngoài và kiểm định công nhận (BHES, 2002) - nhằm vào các mục tiêu GDĐH, sự thực hiện, các kết quả học tập hay các chỉ số và sự phát triển. Ở Indonesia, ĐBCL được xác định thông qua kiểm tra nội bộ các chương trình học, các quy định của chính phủ, cơ chế thị trường và kiểm định công nhận (Tadjudin, 2001). Len thì trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ kiểm định.
Như vậy, ĐBCL GDĐH được sử dụng rộng rãi trên thế giới như là một công cụ nhằm duy trì các chuẩn mực và không ngừng cải thiện CL. Nó được dùng như là một thuật ngữ chung, ở các cấp độ và các cách thức khác nhau tùy thuộc vào văn hoá và tình hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước (Len, 2005). Các nghiên cứu ở Việt Nam Một loạt các văn bản quản lý (QL) nhà nước cấp quốc gia đã khẳng định rõ chủ trương đổi mới QL bằng cách áp dụng kiểm định CL và đây cũng là một phương thức quản lý chất lượng (QLCL) được áp dụng rộng rãi trên thế giới từ thập niên 1990: Luan van 11 - Nghị quyết số 37-2004/QH11 của Quốc hội khoá XI thông qua ngày 3/12/2004 đã chỉ rõ "Lấy việc QLCL làm nhiệm vụ trọng tâm; thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo dục (CLGD) hàng năm" (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 2005). - Ngày 2/8/2004 Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ thị số 25/2004/CTBGD&ĐT (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2004) trong đó yêu cầu các cấp quản lý giáo dục (QLGD), các trường ĐH và Cao đẳng (CĐ) trong toàn quốc khẩn trương xây dựng và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và triển khai hoạt động của hệ thống khảo thí và kiểm định CLGD.
- Ngày 2/12/2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ký Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ban hành quy định tạm thời về kiểm định CL trường ĐH (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2004). Trong vòng gần 3 năm từ 2005 đến 2007, có 20 trường ĐH Việt Nam, gồm 18 trường công lập cùng 2 trường dân lập được xem là thuộc top đầu trong hệ thống đại diện cho các khu vực địa lý trên toàn quốc, đã được chọn để thí điểm đánh giá. Bộ tiêu chuẩn chính thức được Bộ GDĐT ban hành theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 37/2012/TT-BGDĐT ngày 30/10/2012 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2012), gồm 10 khía cạnh như sau: 1) Sứ mạng và mục tiêu của trường ĐH (Tiêu chuẩn 1) 2) Tổ chức và quản lý (Tiêu chuẩn 2) 3) Chương trình giáo dục (Tiêu chuẩn 3) 4) Hoạt động đào tạo (ĐT) (Tiêu chuẩn 4) 5) Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên (Tiêu chuẩn 5) 6) Người học (Tiêu chuẩn 6) 7) Nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ (Tiêu chuẩn 7) 8) Hoạt động hợp tác quốc tế (Tiêu chuẩn 8) 9) Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác (Tiêu chuẩn 9) 10) Tài chính và quản lý tài chính (Tiêu chuẩn 10) Luan van 12 Có được một bộ tiêu chuẩn minh bạch để QLCL trường ĐH thực sự là một bước đột phá trong tư duy QLGD Việt Nam, cho thấy quyết tâm hội nhập của ngành giáo dục (GD), và với nhiều hứa hẹn sẽ đem lại những thay đổi tích cực cho CL GDĐH trong thời gian tới. Phạm Thành Nghị khi nghiên cứu về QLCL GDĐH đã tổng hợp thành ba trường phái lý thuyết: Lý thuyết về sự khan hiếm của CL, lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về CL xét theo nhiệm vụ và mục tiêu (Phạm Thành Nghị , 2000).
Trong “Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Nguyễn Hữu Châu chủ biên đã đưa ra mô hình QLCL GD&ĐT (CIMO) – “CL của một hệ thống GD là sự phù hợp với mục tiêu của hệ thống”. Mục tiêu của hệ thống GD về cơ bản là: (1) Một hệ thống với các thành phần đều vận hành một cách hiệu quả; (2) Hệ thống tạo nên những sản phẩm (con người được giáo dục và ĐT) đáp ứng các chuẩn mực giá trị (Nguyễn Hữu Châu, et al. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm 2004 về “Nghiên cứu đề xuất mô hình QLCL đào tạo ĐH ở Việt Nam” do Phan Văn Kha làm chủ nhiệm – đã đánh giá thực trạng QLCL ĐT sau ĐH ở Việt Nam, xác định những quan điểm trong QLCL và thiết kế mô hình QLCL ĐT sau ĐH. Mô hình QLCL ĐT được đề xuất theo ISO 9000 bao gồm năm bước: Giới thiệu hệ thống CL; ĐT đội ngũ; Vận hành hệ thống CL; Đánh giá hệ thống CL; Giám sát hệ thống CL (Phan Văn Kha, 2004).
Công trình “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” do Nguyễn Đức Chính (Chủ biên) đã phản ánh những kết quả của nhóm nghiên cứu thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội về CL và CL GDĐH; các mô hình bảo đảm và kiểm định CL GDĐH theo SEAMO và TQM cùng Bộ tiêu chí kiểm định CL GDĐH Việt Nam (Nguyễn Đức Chính, 2002). Trong “Quản lý giáo dục” (2006) do Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo biên soạn đã cho rằng thao tác để xây dựng mô hình QLCL là trừu tượng hóa, nắm bắt một số khía cạnh chính, tạm thời bỏ qua những khía cạnh không quan trọng khác để tìm ra bản chất của sự vật và hiện tượng. Mức độ áp dụng mỗi mô hình thay đổi theo sự việc, tình huống và người tham gia. Giá trị của cách tiếp cận phụ thuộc vào các yếu tố: Quy mô của tổ chức; Cấu trúc của tổ chức; Thời gian hiện Luan van 13 hữu để quản lý; Sự hiện hữu của các nguồn lực; Môi trường bên ngoài (Bùi Minh Hiển, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, 2006).
Công trình “Lý luận về quản lý” của Nguyễn Lộc đã dành một phần quan trọng (Chương 12) về quản lý CL tổng thể (TQM) trong GD. Tác giả đã trình bày những nét cơ bản trong lịch sử phát triển của TQM, khái niệm TQM cùng các nội dung TQM và định hướng vận dụng TQM trong GD (Nguyễn Lộc, 2010). Ngoài ra, các luận án tiến sĩ “Xây dựng hệ thống ĐBCL quá trình dạy học các môn chuyên ngành ở Trường ĐH Ngoại Ngữ” năm 2010 của Nguyễn Quang Giao; Luận án tiến sĩ “Quản lý CLĐT trong các trường công an nhân dân” của Nguyễn Văn Ly đã đề ra nhiều biện pháp quan trọng cho công tác ĐBCL ở các đơn vị cụ thể trong hệ thống các trường ĐH Công an nhân dân. Luận án Tiến sĩ của Vũ Xuân Hồng về “Quản lý CLĐT ở trường ĐH ngoại ngữ quân sự”, … Như vậy, cho đến thời điểm này đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về CL, QLCL ở nhiều cấp (cấp hệ thống và cấp cơ sở), các đề tài này đã tiếp cận và ứng dụng các mô hình QLCL hiện đại.
Tuy nhiên chưa có luận văn nào nghiên cứu sâu về quản lý chất lượng chương trình đào tạo theo tiếp cận đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á (AUN) tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Một số khái niệm cơ bản 1. Chất lượng đào tạo đại học Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay từ thời cổ đại, tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung, chất lượng GDĐH nói riêng lại là khái niệm gây nhiều tranh cãi.