CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THEO HÌNH THỨC KỊCH VẢI CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Kịch vải (sân khấu hóa) là một hình thức dạy học mang tính chất chơi vừa là hoạt động nghệ thuật. Trong khi chơi, trẻ thực sự không gò bó và cảm thấy thoải mái nhưng lại kích thích sự cố gắng trong bản thân trẻ để vai chơi của mình được hoàn thiện, mang lại niềm vui và hình thành ở trẻ tính trách nhiệm. Ra đời năm 1973 tại Nhật Bản, hình thức biểu diễn Kịch vải (Panel Theatre) đã được sử dụng rất nhiều trong giáo dục trẻ em.
Năm 2020, Panel Theatre đã được trình bày trong Hội thảo khoa học quốc tế: "GDMN trong kỷ nguyên số: những cơ hội và thách thức", Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội. Kịch vải được đánh giá cao do tính dễ sản xuất và biểu diễn. Bằng những hình vẽ đơn giản, ngộ nghĩnh, nội dung dễ hiểu và việc thầy cô biểu diễn tự nhiên, đáng yêu, nhí nhảnh, biểu cảm…. khiến trẻ không thể rời mắt khỏi bảng vải bởi những chuyển động nhanh, chi tiết bất ngờ, thú vị khó phỏng đoán.
Bên cạnh đó trẻ cũng được cùng tham gia hát kịch, đoán tình huống… Kịch vải cùng với rối, sách tranh ehon và một số hình thức hoạt động khác được xem là tài sản văn hóa thiếu nhi vì đã làm đa dạng các phương thức biểu đạt của GV và nhà trường để phù hợp với sự đa dạng trong các phương pháp biểu đạt của trẻ em. Kịch vải đem lại nhiều niềm vui thích, đặc biệt là thu hút sự chú ý, tập trung và hứng thú tương tác, tham gia của trẻ. Hoạt động kể c trong Kịch vải giúp tăng khả năng nhận thức, ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ, thông qua lời kể và chuyển động của các nhân vật sẽ tạo sự hứng thú và kích thích khả năng tương tác cho trẻ. Ở các trường mầm non có nhiều hoạt động giúp trẻ tăng khả năng tương tác, giao tiếp với GV (GV) như đóng kịch, kể chuyện…qua đó giáo dục cho trẻ những kĩ năng xã hội cần thiết trong cuộc sống.
Các GV luôn tìm tòi những hình thức hoạt động mới nhằm kích thích, hấp dẫn trẻ đồng thời giúp trẻ tăng khả năng giao tiếp, 7 tương tác xã hội. Tại Nhật Bản, Kịch vải đã được sử dụng cả trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt nhằm cải thiện giao tiếp bao gồm sự tập trung, phát triển tương tác đồng thời tăng thêm niềm vui, hứng thú cho trẻ. Với những hiệu quả này, Kịch vải thậm chí được phổ biến trong các nhà dưỡng lão và gần đây đã thu hút sự chú ý ở nước ngoài. Thực tế áp dụng Kịch vải tại Việt Nam ở một số trường mầm non cho thấy Kịch vải đem lại nhiều niềm vui thích, đặc biệt là thu hút sự chú ý, tập trung và hứng thú tương tác, tham gia của trẻ.
Những nghiên cứu về BDNL tổ chức HĐGD cho GVMN Trong quá trình tiến hoá của xã hội con người, giáo dục là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng có ý nghĩa và giá trị. Vì vậy, hoạt động TCM và quản lý hoạt động TCM cũng là một trong những nội dung nhận được sự quan tâm đặc biệt trong thời kỳ đổi mới giáo dục. Việc quản lý hoạt động TCM nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non nói riêng đang là chủ đề thời sự và thu hút được sự quan tâm của nhiều người. Trong nhiều năm gần đây, các HĐGD của trẻ ở trường mầm non được GV tổ chức thực hiện khá đổi mới, sáng tạo, ứng dụng nhiều phương pháp, hình thức giáo dục tiên tiến như: Kịch vải, stem, Reggio Emilia… Hình thức dạy học tích hợp theo chủ đề, HTKV sân khấu hóa Nhật Bản… mà vẫn đảm bảo nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo dựa trên quan điểm lấy trẻ làm trung tâm.
Trong đó, Kịch vải là hình thức khá linh hoạt, dễ vận dụng, có thể kết hợp với hầu hết các PPDH tiên tiến và đạt hiệu quả giáo dục cao trên nhiều môn học khác nhau. Các nội dung của kịch vải có thể được xây dựng dựa trên các hoạt động, câu c diễn ra hàng ngày hay lồng ghép đan cài vào các giờ học, các HĐGD mở rộng… Giáo viên có thể biên kịch kịch bản và tạo hình nhân vật để tạo ra những vở kịch sinh động, hấp dẫn không giống nhau và luôn mới mẻ, cuốn hút và sinh động, gần gũi giúp trẻ nhận ra được mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Trẻ còn được thể hiện hay cảm nhận cảm xúc phong phú qua các nhân vật, được làm việc theo nhóm, được trực tiếp khám phá các sự vật, hiện tượng theo chủ đề nhất định… Tuy nhiên, trên thực tế khi tổ chức các hoạt động ứng dụng HTKV trong các giờ học cho trẻ, GV vẫn nặng về cung cấp kiến thức, yếu tố vui chơi, trải nghiệm, 8 nghệ thuật trong hoạt động còn ít, đồ dùng, đồ chơi, học liệu bằng vải dạ cho trẻ được khám phá, trải nghiệm còn chưa phong phú, chất liệu thay thế vải dạ Nhật chưa đạt độ thẩm mĩ cao. Hoạt động tại các góc chơi nhiều GV chưa tận dụng được và chưa biết cách vận dụng linh hoạt HTKV ngoài giờ học; một số GV thiếu kỹ năng thực hành, thao tác với các nhân vật bằng vải dạ còn chậm, gò bó, chưa mềm mại, linh hoạt nên làm giảm tính hấp dẫn, tính kịch, tính giải trí của HTKV.
Việc khai thác và vận dụng HTKV trong xây dựng, trang trí môi trường lớp học chưa có sự sáng tạo và chưa tận dụng triệt để. Những nghiên cứu về quản lý BDNL tổ chức HĐGD cho GVMN Năm 1987, Viện Hàn lâm sư phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết kết quả nghiên cứu khoa học nhiều năm về quản lý nhà trường và đưa ra nhiều khái niệm mới nhất lúc bấy giờ về quản lý giáo dục nói chung và quản lý các hoạt động giáo dục nói riêng. Trong những công trình NCKH của mình, các nhà khoa học về QLGD Xô Viết cho rằng, kết quả tổng thể hoạt động của nhà trường dựa rất lớn vào sự sắp xếp đúng đắn và hợp lý các hoạt động của ĐNGV. Với kinh nghiệm 26 năm công tác tại chức vụ hiệu trưởng nhà trường, Sukhomlynsky nhà giáo dục vĩ đại của Liên Xô đã tổng kết lại những thành tựu cũng như thất bại của mình.
Cùng với nhiều tác giả khác ông đã đưa ra một số giải pháp quản lý nhà trường cấp THCS từ sự phân chia nhiệm vụ rõ ràng giữa từng cá nhân như BGH, Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn cùng phối hợp với tổ trưởng chuyên môn. Sự thống nhất trong quản lý và phối hợp chặt chẽ giữa hiệu trưởng và phó hiệu trưởng để đạt được mục tiêu đề ra đã được các tác giả ghi nhận, khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của hiệu trưởng (theo Phạm Văn Miếng, 2018). Trong những dòng tổng kết của mình, Xukhomlinki cũng như các tác giả PXtrezicodin, Hakhonôp, Gigoocscaia. Muốn xây dựng ĐNGV có trình độ cao, tâm huyết với nghề nghiệp, người hiệu trưởng phải có quyền chọn lựa ĐNGV cho trường học của mình, đó là những người có tình yêu thương tuyệt đối với trẻ, phải biết tạo dựng dựng mối quan hệ than thiết và có khả năng giao tiếp tốt với trẻ, nắm vững chuyên môn giảng dạy, nắm vững các KHCN có liên quan các môn học được 9 giảng dạy trong nhà trường, vận dụng linh hoạt các lý luận dạy về giáo dục học, giao tiếp với trẻ, tâm lý học đường trẻ mầm non.
Cùng với việc xây dựng ĐNGV, cần xây dựng ĐNGV nòng cốt, vô cùng quan trọng - chính là các tổ trưởng chuyên môn. Đồng thời, việc chú ý đến sự phát triển của từng bộ phận sẽ chỉ góp phần vào sự phát triển hơn nữa của nhà trường. Vì vậy, hiệu trưởng nhà trường phải có trình độ quản lý nhất định mới có thể điều hành, quản lý nhà trường sao cho tổ/nhóm nhân viên hoạt động hiệu quả (Phạm Tuấn Dũng, 2007). Đối với thực tiễn từng trường học, việc trả lời các câu hỏi cơ bản như: Ai quản lý? Quản lý ai? Quản lý như nào?.
Thì trong quyển "Quản lý trường mầm non" của Hayden (1996) và Management of Pre – schools (2000) của Pre - schools Learning Alliance, đã giúp các CBQL trường mầm non có phương pháp quản lý nhà trường hiệu quả (Bùi Thị Kiều Anh, 2015). Các nhà giáo dục lớn trên thể giới đã khẳng định chất lượng giáo dục con người đã có nền tảng cơ bản trong những năm đầu đời, khẳng định vai trò to lớn của giáo dục nhân cách con người ngay ở lứa tuổi mẫu giáo "Những cơ sở cơ bản của sự giáo dục con người đã có từ trước 5 tuổi (chiếm 90%). Về sau này sự giáo dục rèn luyện con người có tiếp tục, nhưng lúc ấy là lúc bước đầu xuất hiện hiệu quả giáo dục” (Macarencô, 1930). Nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức đúng đắn của GVMN về XHCN, NLCM mà bản thân giảng dạy, đồng thời cũng hoàn thiện kỹ năng sư phạm của chính mình.
Nếu GDMN được thực hiện tốt thì thành công trong giáo dục đào tạo con người ở những thời kỳ sau đã được đảm bảo một cách chắc chắn. Để đạt được mục tiêu này, các khoản đầu tư đang được thực hiện để nâng cao chất lượng chương trình giáo dục mầm non và chất lượng của các đội giáo dục mầm non, xây dựng mạng lưới các trường tiểu học phục vụ giáo dục mầm non, đầu tư cơ sở vật chất, xã hội hóa giáo dục và thu hút đầu tư. Giáo dục mầm non trở thành vốn của toàn xã hội. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu còn tìm hiếu sâu hơn về vai trò của người lãnh đạo ở nhà trường cấp mầm non như các NCKH của Serivens (1990) và Rodd (2006) về vấn đề quản lí chuyên môn, vai trò của hiệu trưởng, người lãnh đạo trong trường mầm non cũng được nhắc đến như đã nêu trên.
10 “Quản lý là một phạm trù xã hội, tồn tại khách quan và cần thiết về mặt lịch sử. Để xã hội đạt được năng suất cao, nó cung cấp sự lãnh đạo, quản lý, phân bổ, điều phối, kiểm soát và điều tiết các quá trình sản xuất.” Các thời kỳ lịch sử khác nhau có hình thái xã hội khác nhau, phương pháp quản lý khác nhau và lý do khác nhau. “Quản lý vừa là một nghệ thuật vừa là một khoa học. Đó là quá trình đưa ra quyết định và kiểm soát hành vi.