phần Mở đầu (04 trang), Kết luận (03 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang) và Phụ lục, Luận án gồm có 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát 11 về các đoàn văn công quân đội (42 trang). Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật của các đoàn văn công quân đội (45 trang). Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại các đoàn văn công quân đội (48 trang). 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN ĐỘI 1.
Tổng quan tình hình nghi n cứu 1. Những công trình nghiên cứu về quản lý văn hoá nghệ thuật, quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả Laurent Lapierre với bài “Lãnh đạo và quản lý nghệ thuật” [144] đã nhìn nhận quản lý một tổ chức nghệ thuật dƣới góc nhìn quản lý chung với việc quản lý nhân sự - nghệ sĩ. Một tổ chức nghệ thuật cũng nhƣ một doanh nghiệp.
Muốn việc quản lý đạt hiệu quả phải phụ thuộc vào quản lý ngƣời nghệ sĩ. Đây vừa là vấn đề chung mà cũng là vấn đề riêng trong quản lý nghệ thuật. Vì ngƣời nghệ sĩ vừa là nhân lực của 1 tổ chức, vừa có những đặc điểm riêng của ngƣời sáng tạo nghệ thuật. Sự thành công của các tổ chức nghệ thuật nói chung phụ thuộc vào khả năng s n sàng của ngƣời nghệ sĩ cống hiến bản thân mình cho tác phẩm, bộ môn nghệ thuật hay cho một tiết mục.
Thống nhất quan điểm này, trong Management and the Arts (Quản lý nghệ thuật), tác giả Byrnes cũng đánh giá quá trình quản lý 1 tổ chức nghệ thuật cũng giống quản lý ở các tổ chức khác, đó là quá trình lập kế hoạch, điều hành, lãnh đạo và giám sát nh m đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức [139]. Art management (Quản lý nghệ thuật) [140]; “From Arts Management to Cutural Adminitration” (Từ quản lý nghệ thuật đến quản trị văn hoá) [142]; “Leader ship and Arts Management” (Lãnh đạo và quản lý nghệ thuật) [144] đều đề cập đến vai trò quan trọng của công tác quản lý, định hƣớng trong sự tồn tại phát triển của tổ chức. Các công trình nghiên cứu về quản lý tổ chức nghệ thuật của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng là nguồn tài liệu tham khảo trong đề tài, nhƣ: 13 How to run a theatre (Làm thế nào để vận hành một tổ chức nghệ thuật: một hướng dẫn thú vị, thực tế về quản lý văn hoá nghệ thuật) [136] đã đƣa ra những giải pháp nh m phát huy sự sáng tạo của một đơn vị hoạt động nghệ thuật trong bối cảnh phải tự chủ về mặt tài chính. Trong đó có những ví dụ minh họa việc tổ chức hoạt động nghệ thuật hƣớng đến công chúng, để bán vé nhƣng v n giữ đƣợc tính nghệ thuật.
Cuốn Theatre Management: Producing and Managing the Perfoming Arts (Quản lý nhà hát: Sản xuất và quản lý nghệ thuật) [141] đƣa ra mô hình hoạt động mà việc quản lý nh m tạo điều kiện và thúc đấy sự đa dạng và sáng tạo của nghệ sĩ. Trong bài “Làm thế nào để vận hành một tổ chức nghệ thuật: một hƣớng d n thú vị, thực tế về quản lý văn hoá nghệ thuật” của Jim Volz [143] đã phân tích hiện trạng quản lý hoạt động nghệ thuật, trong đó có đề cập đến công cụ quản lý, cấu trúc tổ chức và nguồn nhân lực. Đồng thời tác giả đƣa ra các đề xuất liên quan đến cải cách các công cụ quản lý, về cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực. Nhƣ vậy, các nghiên cứu đều đề cập đến vai trò của công tác quản lý nguồn nhân lực, trong đó kh ng định nguồn nhân lực luôn đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại phát triển của tổ chức.
Tuy nhiên các nghiên cứu này đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh của các nƣớc phƣơng Tây, nơi có nền kinh tế và khoa học phát triển, do đó các nghiên cứu này có mô hình quản lý nhân lực phù hợp với đơn vị nghệ thuật ở các nƣớc phát triển. Các nghiên cứu về quản lý nghệ thuật đều nhận định đƣợc những đặc thù và khó khăn riêng của ngành nghệ thuật, trong đó nhấn mạnh tác động của yếu tố môi trƣờng khách quan và chủ quan, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc thích ứng với môi trƣờng và xây dựng môi trƣờng thuận lợi để kích thích, tạo coƣ hội cho sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ. Nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu lý luận về quản lý văn hóa ở Việt Nam rất rộng và có tầm khái quát cao. Đề tài chỉ tổng quan một số các công trình lý luận chung về văn hóa nghệ thuật đƣợc xem xét, nghiên cứu, làm cơ sở lý luận cho đề tài nhƣ: Cuốn Văn hoá nghệ thuật với sự hình thành nhân cách và phát triển xã hội của tác giả Nguyễn Đình Quang (1998).
Tác phẩm đề cập đến vấn đề văn hoá, nghệ thuật trong sự hình thành và phát triển xã hội. Nội dung cuốn sách này củng cố luận điểm về mối quan hệ giữa các hoạt động văn hoá xã hội trong sự hình thành, phát triển nhân cách tốt đẹp của mỗi cá nhân trong xã hội hay của mỗi ngƣời lính. Đây là cơ sở cần thiết định hƣớng trong nghiên cứu của đề tài [91]. Năm 2001, tác giả Nguyễn Khoa Điềm trong Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã có những nghiên cứu cụ thể về tình hình văn hoá dân tộc hiện nay, Trong cuốn sách, tác giả đã đƣa ra những d n chứng cụ thể về các hoạt động văn hoá dân tộc, từ đó đề xuất biện pháp xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh xây dựng, phát triển, hội nhập và giao lƣu văn hoá [38].
Góp phần quan trọng trong xây dựng hệ thống lý luận về quản lý văn hoá, đề tài có tham khảo một số công trình nghiên cứu liên quan nhƣ: cuốn Quản lý hoạt động văn hoá (1998) của nhóm tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của khoa học quản lý nhƣ: quản lý, quản lý văn hoá, chính sách văn hoá, quy trình quản lý văn hoá, nội dung quản lý văn hoá trên tất cả các lĩnh vực về văn hoá nghệ thuật, về hợp tác quốc tế về xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở,. Đây là những căn cứ xác đáng mà đề tài có thể tham khảo [63], Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta của tác giả Hoàng Vinh [126]. Trong cuốn này, 15 những khái niệm, cách tiếp cận đƣợc tác giả hệ thống và có những ví dụ từ thực tiễn giúp cho đề tài hiểu rõ hơn về tác động của lí luận vào thực tiễn quản lý, xây dựng văn hoá trong bối cảnh đặc thù nhƣ ở Việt Nam. Đề cập đến mảng chính sách văn hoá, năm 2009, cuốn Chính sách văn hoá trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hoá ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Văn Tình tập trung trình bày chính sách của một số nƣớc phát triển trong khu vực và trên thế giới, cũng nhƣ đánh giá tình hình thực thi chính sách văn hoá ở Việt Nam.
Qua đó, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp nh m hoàn thiện chính sách văn hoá ở Việt Nam. Những giải pháp trong cuốn sách này là những gợi ý cho đề tài nh m đề xuất, đƣa ra giải pháp hoàn thiện trong công tác quản lý các đoàn văn công trong bối cảnh hiện nay [108]. Cũng bàn về kinh nghiệm thực tiễn về quản lý văn hoá ở một số nƣớc phát triển đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định là điều rất cần thiết cho những nhà quản lý nghệ thuật. Tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn trong bài viết “Quản lý văn hoá ở một số nƣớc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đã tìm hiểu kinh nghiệm quản lý văn hoá ở các quốc gia tiêu biểu nhƣ Anh, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, và Trung Quốc.
Từ đó, đề ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [44, tr. Cuốn sách Quản lý văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn đồng chủ biên. Nội dung cuốn sách giới thiệu những quan điểm chung về quản lý văn hoá trong bối cảnh hiện nay; giới thiệu kinh nghiệm quản lý văn hoá của một số quốc gia trên thế giới; đánh giá thực trạng quản lý văn hoá ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986); đề xuất những định hƣớng, giải pháp nh m hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý văn hoá trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo có tính định hƣớng chung cho các quan điểm về hoạt động quản lý văn hoá ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay [45].
16 Cũng bàn về quản lý văn hoá trong bối cảnh hội nhập quốc tế có thể kể đến cuốn Hợp tác quốc tế về văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam của tác giả Lê Thị Hoài Phƣơng (2009). Tác giả đánh giá những mặt ƣu điểm và hạn chế của mô hình quản lý lý văn hoá ở các phƣơng diện: cơ chế quản lý, công tác đào tạo, đãi ngộ, chế độ dành cho đào tạo và bồi dƣỡng nhân lực ở nƣớc ngoài của trong các tổ chức văn hoá nghệ thuật [86]. Năm 2010, cuốn Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của tác giả Nguyễn Chí Bền. Cuốn sách đã phác hoạ bức tranh toàn cảnh về nền văn hoá Việt Nam theo dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại, với mọi mặt của đời sống văn hoá xã hội, cũng nhƣ đề cập đến hiện trạng và những tác động của quá trình hội nhập quốc tế đối với các thành tố của nền văn hoá dân tộc [18].
Ngoài ra còn một số giáo trình nhƣ: Lược sử Quản lý văn hoá ở Việt Nam của tác giả Hoàng Sơn Cƣờng; Quản lý văn hoá trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của tác giả Nguyễn Tri Nguyên,… đƣợc biên soạn để giảng dạy và học tập của giảng viên, học viên và sinh viên.