Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm chính Từ thế kỷ XIX, thế giới đã bắt đầu quan tâm đến bảo tồn và bảo vệ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, dưới sức ép về kinh tế và nhu cầu sử dụng vô hạn của con người ngày một tăng cao, công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng còn gặp rất nhiều khó khăn. Sau đây là một số khái niệm chính có liên quan đến đề tài nghiên cứu: Cộng đồng (Commune) theo tổ chức FAO (1990) định nghĩa là “Những người sống tại một chỗ trong tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”.
Ở Việt Nam, cộng đồng được hiểu là những người sống trong cùng ranh giới hành chính như cộng đồng thôn, cộng đồng bản. Ranh giới hành chính các thôn, bản đều được thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên kết mật thiết, người đứng đầu (trưởng thôn, trưởng bản) có hương ước, quy ước xây dựng lâu đời và được người dân rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt. Quản lý rừng cộng đồng (Community Forest Management – CFM) cũng theo FAO định nghĩa là “Tất cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bảo tồn nhưng hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trại hàng hóa, sản xuất chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong rừng”. Quản lý rừng bền vững theo ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế), là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhăm đạt được một hoặc nhiều hơn 4 những mục tiêu quản lý rừng đã đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội.
Còn theo tiến trình Hensinki, Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện, và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đồi với hệ sinh thái khác. Nhìn chung, hai định nghĩa trên khá đầy đủ về QLBVR, đó là quản lý và phát triển kinh tế hiện đại nhưng không làm ảnh hưởng đến nhu cầu trong tương lai. Tuy nhiên để thực hiện QLBVR cần tuân thủ theo những quy tắc và quá trình khai thác nghiêm ngặt. Để đảm bảo được điều này, mỗi người trong một cộng đồng đều phải có ý thức và trách nhiệm cao, chỉ cần một người phá vỡ các quy tắc có thể kéo theo hàng loạt những đổ vỡ trong quá trình QLBVR.
Tình hình QLBVR trên Thế giới Bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng (QLTNR) đang là những vấn đề nóng hiện nay trên Thế giới. Bước đi đầu tiên của Thế giới là việc thành lập Vườn Quốc gia (VQG) Yellowstone ở Mỹ năm 1872. Từ thời điểm này, con người đãt bắt đầu nhận ra những tác động tiêu cực của mình đến môi trường, đặc biệt là sau cuộc cách mạng công nghiệp đầu thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX, hàng loạt các Quốc gia đã có những chính sách đổi mới về quản lý rừng như Nêpan, Ấn độ, Thái Lan, .Trong thời kỳ đó, QLBVR được thể hiện dưới các hình thức như: hình thành các nhóm sử dụng rừng địa bàn, lâm nghiệp xã hội, các chính sách về đồng quản lý rừng của Nhà nước và nông dân, tổ chức hay 5 các trường học, phát triển khuyến lâm kết hợp với bảo vệ rừng,… (Richard B.
Primack, 1999) Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã có những công trình nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý Khu bảo tồn (KBT) và Vườn Quốc gia với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định. Nhìn chung các KBT/ VQG đều được thiết lập vì mục đích chung của các Quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác tài nguyên rừng (TNR).
Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn. Thinley và Wangchuks (2005), cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước ở vùng đất dốc. Theo Gadgil và VP.
Vartok, người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các diện tích rừng từ dưới 0,5ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây. Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ. Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm. 6 Các tác giả Apple Gate, G.A 1987, khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nêpan đã nhận thấy có mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi.
Tác giả cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh. Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào. Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý tài nguyên rừng (TNR) và kinh tế - xã hội.
Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này. Các nghiên cứu trên Thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR.
Tình hình QLBVR ở Việt Nam: So với nhiều nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam tương đối sớm. Tháng 7/1962, Quyết định số 72/TTg của thủ tướng chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.000 ha, sau này trở thành VQG đầu tiên của nước ta. Bên cạnh đó, Chính 7 phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng khác. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có 128 khu rừng đặc dụng được thành lập Ở Việt Nam, bảo vệ rừng dưới sự quản lý của cộng đồng người dân bản địa đã có lịch sử từ lâu đời, nhưng sau thời kỳ đổi mới (1986) – các công cuộc cải cách kinh tế và đất đai được thực hiện thì những cộng đồng này và công tác QLBVR của họ mới nhận được sự hỗ trợ về kinh tế của Nhà nước.
Trong thời kỳ đó, ¼ diện tích rừng toàn quốc đã được chuyển giao từ quản lý quốc doanh sang các hộ gia đình và cá nhân. Đến cuối thế kỷ XX đầu XXI, nhà nước bắt đầu thử nghiệm các mô hình Quản lý rừng cộng đồng trong khuôn khổ các chương trình dự án cấp Quốc gia. Đến năm 2004 ban hành luật Bảo vệ và phát triển rừng thì các cấp quản lý rừng ở thôn bản mới thực sự được công nhận về mặt pháp lý. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Ngãi (2005; 2009) tiến trình hình thành và phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam có thể phân chia thành các giai đoạn: - Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng.
- Giai đoạn 1954-1975: Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống. - Giai đoạn 1976-1985: Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốc doanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp. - Giai đoạn 1986-1992: Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối với rừng truyền thống của làng bản. - Giai đoạn 1993-2002: Tăng cường quá trình phi tập trung hóa trong quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đổi với Lâm nghiệp cộng đồng chưa rõ ràng.
- Từ 2003 đến nay: hình thành khung pháp lý cơ bản cho Lâm nghiệp cộng đồng. 8 Tính đến hiện tại, đã có không ít những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến việc dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương ở Việt Nam, như: Các tác giả Donovan D.