Chương 1 của Luật an toàn thực phẩm có quy định: “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. Những hoạt động chính của các tổ chức, cá nhân trong ATVSTP là thỏa mãn những điều kiện bảo đảm an toàn đối với: - Thực phẩm; - Sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; - Quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; - Kiểm nghiệm thực phẩm; - Phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Trong đó, điều kiện bảo đảm ATVSTP là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người, bao gồm: a. Điều kiện chung về bảo đảm an toàn đối với thực phẩm 15 - Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người.
- Tùy từng loại thực phẩm, ngoài các điều kiện chung như trên thực phẩm còn phải đáp ứng một hoặc một số các quy định sau đây: i) Quy định về sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; ii) Quy định về bao gói và ghi nhãn thực phẩm; iii) Quy định về bảo quản thực phẩm. Điều kiện riêng bảo đảm an toàn đối với từng loại thực phẩm - Đối với thực phẩm tươi sống: i) Bảo đảm truy xuất được nguồn gốc theo quy định của Luật An toàn thực phẩm; ii) Có chứng nhận vệ sinh thú y của cơ quan thú y có thẩm quyền đối với thực phẩm tươi sống có nguồn gốc từ động vật theo quy định của pháp luật về thú y. - Đối với thực phẩm đã qua chế biến: i) Nguyên liệu ban đầu tạo nên thực phẩm phải bảo đảm an toàn và giữ nguyên các thuộc tính vốn có của nó; các nguyên liệu tạo thành thực phẩm không được tương tác với nhau để tạo ra các sản phẩm gây hại đến sức khoẻ, tính mạng con người; ii) Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn phải đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường. - Đối với thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng: i) Nguyên liệu ban đầu tạo nên thực phẩm phải bảo đảm an toàn và giữ nguyên các thuộc tính vốn có của nó; các nguyên liệu tạo thành thực 16 phẩm không được tương tác với nhau để tạo ra các sản phẩm gây hại đến sức khoẻ, tính mạng con người; ii) Chỉ được tăng cường vi chất dinh dưỡng là vitamin, chất khoáng, chất vi lượng vào thực phẩm với hàm lượng bảo đảm không gây hại đến sức khoẻ, tính mạng con người và thuộc Danh mục theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Đối với thực phẩm chức năng: i) Có thông tin, tài liệu khoa học chứng minh về tác dụng của thành phần tạo nên chức năng đã công bố; ii) Thực phẩm chức năng lần đầu tiên đưa ra lưu thông trên thị trường phải có báo cáo thử nghiệm hiệu quả về công dụng của sản phẩm. - Đối với thực phẩm biến đổi gen: Tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn đối với sức khỏe con người và môi trường theo quy định của Chính phủ. - Đối với thực phẩm đã qua chiếu xạ: i) Thuộc Danh mục nhóm thực phẩm được phép chiếu xạ; ii) Tuân thủ quy định về liều lượng chiếu xạ. - Đối với phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm: i) Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; ii) Có hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn hoặc tài liệu đính kèm trong mỗi đơn vị sản phẩm bằng tiếng Việt và ngôn ngữ khác theo xuất xứ sản phẩm; iii) Thuộc Danh mục phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm được phép sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định; iv) Đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường.
Ngoài ra, đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thì phải: 17 + Sản xuất từ nguyên vật liệu an toàn, bảo đảm không thôi nhiễm các chất độc hại, mùi vị lạ vào thực phẩm, bảo đảm chất lượng thực phẩm trong thời hạn sử dụng. + Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. + Đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường. Ý nghĩa kinh tế - xã hội của an toàn vệ sinh thực phẩm ATVSTP có một ý nghĩa quan trọng về kinh tế - xã hội, với những biểu hiện chủ yếu như: Về phương diện kinh tế, bằng việc tạo ra các sản phẩm hàng hóa- những thực phẩm an toàn, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thương hiệu của sản phẩm của các doanh nghiệp, sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản thực phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản thực phẩm, từ đó đảm bảo cho sự thành công của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, góp phần thúc đẩy sản xuất, dịch vụ phát triển trên cơ sở bền vững là hết sức cần thiết.
Ví dụ, là nước sản xuất lương thực và thực phẩm, tiếp tục là nước xuất khẩu lớn về lương thực, thực phẩm, trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cũng chiếm trên dưới 3% toàn bộ thủy sản thế giới. Vì vậy, ATVSTP là một bảo đảm cho xuất khẩu hàng hóa (là thực phẩm) của nước ta. Hơn nữa, vì tính phổ biến và không thể thiếu của thực phẩm đối với đời sống con người, nên ATVSTP còn ảnh hưởng lớn đến cả thương mại, du lịch, phát triển kinh tế nói chung và an sinh xã hội nói riêng. Đối với xã hội, ATVSTP là yếu tố bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng một cách lâu dài, bền vững, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thể hiện nếp sống văn minh của xã hội khi được sử dụng những sản phẩm thực phẩm an toàn.
Quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm. Khái niệm quản lý nhà nước a. Khái niệm quản lý Quản lý là yêu cầu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia. Dưới góc độ điều khiển học, quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định.
Như vậy, về mặt ngôn ngữ “quản lý” được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng (khách thể) quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý xã hội là một loại hình của quản lý nói chung, trong đó quản xã hội là sự tác động có định hướng (chỉ huy, điều hành, hướng dẫn…) lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động, phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và theo ý chí của nhà quản lý.Mác chỉ ra rằng: “Lao động giám sát và quản lý cần ở cả những nơi mà lao động sản xuất trực tiếp có hình thức của một quá trình phối hợp mang tính xã hội chứ không phải là lao động riêng rẽ của những người sản xuất độc lập”. Tính đa dạng, phức tạp của quá trình này thể hiện ở chỗ nó phải điều chỉnh các quá trình xã hội, các hoạt động của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và hành vi của con người có ý thức. Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi cấp độ tổ chức của con người từ các nhóm nhỏ đến tầm quốc gia, khu vực và quốc tế đều không thể thiếu vai trò tổ chức và quản lý.
Luận giải về vai trò của quản lý xã hội, C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt đọng cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì 19 cần phải có nhạc trưởng” [C.Mác (1960, Tư bản,quyển II, tập 2, tr.Sự thật, Hà Nội]. Như vậy, nói đến quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: - Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một đối tượng chịu tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý; - Phải có mục tiêu vạch ra cho cả đối tượng và chủ thể quản lý; - Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đối tượng quản lý có thể là con người, sự vật, hiện tượng được chủ thể quản lý; - Khách thể, xét trong quan hệ độc lập với chủ thể, là con người hoặc tổ chức mà qua đó chủ thể quản lý có thể tác động lên đối tượng quản lý. Sơ đồ 1: Logic của quá trình quản lý Từ những luận giải như trên chúng ta có thể rút ra một khái niệm chung nhất về quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý Nhà nước là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng.