Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh Thái Nguyên ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt 10,47%/năm, đưa quy mô nền kinh tế theo giá so sánh 2010 lên 81.832,6 tỷ đồng và nâng mức GRDP bình quân đầu người lên 88,7 triệu đồng/năm. Sự phát triển bứt phá của khu vực công nghiệp và đô thị hóa với hơn 1,3 triệu dân số đã thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ thực phẩm gia tăng nhanh chóng. Toàn tỉnh hiện có 13.190 cơ sở thực phẩm, trong đó ngành Công Thương chịu trách nhiệm quản lý 4.616 cơ sở. Tuy nhiên, sự xuất hiện của 6 khu công nghiệp, 32 cụm công nghiệp cùng hơn 100 bếp ăn tập thể phục vụ gần 300.000 công nhân, học sinh và sinh viên đang tạo ra áp lực nặng nề lên công tác kiểm soát an toàn thực phẩm. Tình trạng vi phạm quy chuẩn kỹ thuật, kinh doanh hàng giả, rượu tự nấu không rõ nguồn gốc và thực phẩm kém chất lượng vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với an toàn thực phẩm ngành Công Thương cấp tỉnh; phân tích, đánh giá thực trạng quản lý giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, chỉ rõ những hạn chế và nguyên nhân gốc rễ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2021-2025. Phạm vi không gian được xác định tại 9 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Thái Nguyên, tập trung vào chuỗi sản phẩm thuộc thẩm quyền như rượu, bia, nước giải khát, sữa, dầu thực vật và bánh mứt kẹo. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học giúp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của 28 biên chế quản lý chuyên trách cấp tỉnh và thị trường, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt chuẩn an toàn thực phẩm lên trên 95% và giảm thiểu tối đa các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khung lý thuyết nền tảng: Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế và Lý thuyết chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn từ nông trại đến bàn ăn. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được định vị là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực pháp lý của các cơ quan quản lý lên toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe nhân dân và ổn định trật tự kinh tế xã hội. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chu trình quản trị 4 mắt xích: Hoạch định thể chế và kế hoạch; Hướng dẫn tuyên truyền và cấp phép; Giám sát chuỗi cung ứng; Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng các nguyên lý kiểm soát nguy cơ theo hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP) và Phân tích nguy cơ, kiểm soát điểm tới hạn (HACCP). Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi: An toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe và tính mạng con người; Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ngành Công Thương là hoạt động điều chỉnh chuyên ngành đối với các nhóm hàng bia, rượu, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, bột và tinh bột; Ô nhiễm thực phẩm là sự xuất hiện của các tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý vượt ngưỡng cho phép; Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý cấp tính hoặc mãn tính do hấp thụ thực phẩm ô nhiễm; và Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là hệ thống quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc đối với cơ sở và trang thiết bị sản xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích các hiện tượng quản lý trong mối quan hệ đa chiều giữa thể chế, hạ tầng và con người. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên các năm 2016-2020, hệ thống báo cáo chuyên đề của Sở Công Thương, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Cục Quản lý thị trường tỉnh và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Luật An toàn thực phẩm 2010, Nghị định 15/2018/NĐ-CP và Quyết định 32/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 4.616 cơ sở thực phẩm thuộc ngành Công Thương trên địa bàn 9 đơn vị hành chính (gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện), kết hợp khảo sát hiện trạng tại 139 chợ truyền thống và hơn 100 bếp ăn tập thể. Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê so sánh được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu phát triển, đối chiếu tương quan giữa nguồn lực quản lý và quy mô cơ sở thực tế. Đồng thời, phương pháp chuyên gia được thực hiện thông qua việc tham vấn ý kiến chuyên sâu từ lãnh đạo 3 phòng chuyên môn thuộc Sở Công Thương và lực lượng kiểm soát viên tại 6 Đội Quản lý thị trường địa bàn. Quy trình nghiên cứu được triển khai xuyên suốt theo tiến trình đánh giá hiện trạng 5 năm 2016-2020 và xác lập giải pháp cho giai đoạn 2021-2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ngành thực phẩm Công Thương tại Thái Nguyên mang tính phân tán cao với quy mô sản xuất nhỏ lẻ chiếm ưu thế tuyệt đối. Trong 4.616 cơ sở thuộc diện quản lý, có 780 cơ sở sản xuất chế biến và 3.836 cơ sở kinh doanh thương mại. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư dây chuyền máy móc hiện đại chỉ chiếm khoảng 10% ở các nhóm sản xuất bia, rượu và bánh mứt kẹo quy mô lớn. 90% còn lại là các cơ sở cá thể, hộ gia đình với điều kiện trang thiết bị bán thủ công hoặc thủ công truyền thống, bao gồm 250 cơ sở sản xuất rượu thủ công, 205 cơ sở bánh từ bột, 200 cơ sở bánh mứt kẹo, 110 cơ sở chế biến đậu phụ và 10 cơ sở chiết xuất dầu thực vật.

Thứ hai, hạ tầng mạng lưới thương mại truyền thống còn nhiều bất cập trước các tiêu chuẩn an toàn hiện đại. Toàn tỉnh có 139 chợ, nhưng có tới 126 chợ loại III (chiếm 90,6%), 10 chợ loại II (chiếm 7,2%) và chỉ có 3 chợ loại I (chiếm 2,2%). Hầu hết các chợ loại III đều chưa đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 11856:2017 về chợ kinh doanh thực phẩm, dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn chéo trong quá trình bày bán thực phẩm tươi sống và chế biến sẵn.

Thứ ba, nguồn lực bộ máy quản lý nhà nước mỏng và thiếu tính chuyên trách ở cấp cơ sở. Ở cấp tỉnh, Sở Công Thương chỉ bố trí 6 biên chế kiêm nhiệm và phối hợp tham mưu về an toàn thực phẩm (Phòng Kỹ thuật an toàn và Môi trường có 2 biên chế, Phòng Quản lý Thương mại có 2 biên chế, Thanh tra Sở có 2 biên chế) cùng 22 kiểm soát viên tại Cục Quản lý thị trường. Tại cấp huyện, 100% cán bộ thực hiện công tác này tại các Phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng là cán bộ kiêm nhiệm. Tại 180 xã, phường, thị trấn, nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm ngành Công Thương hoàn toàn do cán bộ văn phòng kiêm nhiệm, không có chuyên môn sâu về an toàn vệ sinh thực phẩm.

Thứ tư, công tác đào tạo và thanh kiểm tra chưa bao phủ toàn diện. Trong giai đoạn 2017-2019, toàn ngành chỉ tổ chức được 5 lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và các hộ tiểu thương chợ truyền thống. Tỷ lệ phương tiện chuyên dụng bảo đảm điều kiện nhiệt độ và che chắn kín khi vận chuyển thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ ước tính chỉ đạt dưới 30%, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn trong khâu lưu thông.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan. Về khách quan, tốc độ phát triển công nghiệp hóa quá nhanh với tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng đạt 14,5%/năm đã tạo ra sự gia tăng đột biến của các chuỗi cung ứng thực phẩm quy mô lớn, vượt quá năng lực quản lý của bộ máy hiện hành. Về chủ quan, nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của các hộ sản xuất nhỏ lẻ còn thấp; thói quen tiêu dùng chuộng giá rẻ của người dân tại khu vực nông thôn và vùng ven khu công nghiệp đã vô tình tạo đất sống cho các sản phẩm không rõ nguồn gốc.

So sánh với kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên trong việc phân cấp quản lý chặt chẽ an toàn thực phẩm tại các bếp ăn khu công nghiệp và mô hình chuẩn hóa 71 chợ thực phẩm an toàn tại tỉnh Vĩnh Phúc, công tác quản lý tại Thái Nguyên còn thiếu sự phối hợp liên ngành nhịp nhàng giữa ba ngành Y tế, Nông nghiệp và Công Thương. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét qua ma trận tương quan giữa số lượng cơ sở sản xuất và biên chế giám sát: một kiểm soát viên phải theo dõi trung bình hàng trăm cơ sở phân tán trên địa bàn đồi núi phức tạp. Kết quả nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện sự chênh lệch giữa 90% cơ sở thủ công nhỏ lẻ so với 10% cơ sở quy mô công nghiệp, kết hợp bảng ma trận phân tích năng lực cán bộ 3 cấp để chỉ ra khoảng trống quản lý tại tuyến xã và huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiện toàn bộ máy tổ chức và chuẩn hóa nhân lực quản lý chuyên trách: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Sở Công Thương cần bố trí ít nhất 1-2 cán bộ chuyên trách về an toàn thực phẩm tại Phòng Kinh tế hoặc Phòng Kinh tế và Hạ tầng của 9 huyện, thành phố, thị xã trong giai đoạn 2021-2023. Đồng thời, tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho 100% cán bộ văn phòng kiêm nhiệm tại 180 xã, phường, thị trấn trước năm 2024.

Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và phân cấp quản lý rõ ràng: Ban hành văn bản sửa đổi Quyết định 32/2016/QĐ-UBND nhằm phân định cụ thể thẩm quyền cấp phép, giám sát giữa Sở Công Thương và Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa kết nối liên thông giữa 3 ngành Y tế, Nông nghiệp, Công Thương để theo dõi 4.616 cơ sở thực phẩm trên địa bàn tỉnh, phấn đấu đạt tỷ lệ 100% cơ sở dữ liệu được cập nhật trực tuyến vào năm 2024.

Nâng cấp hạ tầng thương mại và xây dựng chuỗi cung ứng đạt chuẩn: Sở Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện triển khai dự án nâng cấp hệ thống 139 chợ theo tiêu chuẩn TCVN 11856:2017. Mục tiêu đến năm 2025 có ít nhất 30% số chợ truyền thống (khoảng 42 chợ) hoàn thành cải tạo khu vực kinh doanh thực phẩm cách ly nguồn ô nhiễm, trang bị đầy đủ quầy kệ inox và hệ thống cấp thoát nước hợp vệ sinh.

Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và nâng cao năng lực kiểm nghiệm hiện trường: Đội Quản lý thị trường phối hợp Thanh tra Sở Công Thương tăng tần suất kiểm tra đột xuất đối với 250 cơ sở nấu rượu thủ công và 200 cơ sở bánh mứt kẹo, bảo đảm tỷ lệ thanh kiểm tra định kỳ đạt tối thiểu 95% số cơ sở mỗi năm trong giai đoạn 2021-2025. Trang bị các bộ kit thử nghiệm nhanh độc chất cho lực lượng kiểm soát viên tại 6 Đội Quản lý thị trường địa bàn.

Đổi mới công tác thông tin, truyền thông và đào tạo xác nhận kiến thức: Mở rộng quy mô tập huấn từ 2 lớp/năm lên 10-12 lớp/năm, bảo đảm đến hết năm 2025 có 100% chủ cơ sở và người lao động trực tiếp tại 780 cơ sở sản xuất chế biến được cấp giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm và khám sức khỏe định kỳ theo quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại Sở Công Thương, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng, hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu lực quản lý và mô hình phân cấp quản lý thực phẩm công nghiệp phù hợp với đặc thù địa phương.

Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Kinh tế/Kinh tế và Hạ tầng, cán bộ cơ sở tại 9 huyện, thành phố, thị xã: Tài liệu đóng vai trò là cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ thẩm định, quy trình cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện và phương pháp triển khai tiêu chuẩn chợ kinh doanh thực phẩm an toàn tại 139 chợ truyền thống.

Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ cá thể sản xuất kinh doanh các mặt hàng rượu, bia, bánh kẹo, nước giải khát: Nắm vững các quy định pháp lý của Luật An toàn thực phẩm 2010, Nghị định 15/2018/NĐ-CP, từ đó chủ động cải tiến quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GMP, HACCP và bảo đảm an toàn vận chuyển.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Kinh tế phát triển: Nguồn tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận nghiên cứu quản lý ngành, cấu trúc số liệu kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và kinh nghiệm xây dựng giải pháp chính sách công cấp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Ngành Công Thương tỉnh Thái Nguyên chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm đối với những nhóm sản phẩm nào? Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm và Thông tư 43/2018/TT-BCT, ngành Công Thương quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển và kinh doanh các mặt hàng: bia, rượu, cồn và đồ uống có cồn, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, bột và tinh bột, bánh mứt kẹo cùng các dụng cụ, bao bì chứa đựng trực tiếp các sản phẩm này.

Thách thức lớn nhất trong công tác quản lý an toàn thực phẩm ngành Công Thương tại Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 là gì? Thách thức lớn nhất là tính chất phân tán của 4.616 cơ sở trên địa bàn 3.526,64 km², trong đó hơn 90% là cơ sở sản xuất thủ công nhỏ lẻ, gia đình (như 250 cơ sở nấu rượu, 205 cơ sở làm bánh từ bột). Trong khi đó, bộ máy quản lý cấp tỉnh chỉ có 6 biên chế tham mưu, cấp huyện và xã hoàn toàn là cán bộ kiêm nhiệm.

Thái Nguyên có thể áp dụng bài học kinh nghiệm nào từ các tỉnh lân cận như Hưng Yên và Vĩnh Phúc? Thái Nguyên có thể tiếp thu mô hình phân cấp trách nhiệm quản lý cụ thể đến tận cấp xã và ban quản lý khu công nghiệp của Hưng Yên để kiểm soát hơn 100 bếp ăn tập thể. Đồng thời, học tập tỉnh Vĩnh Phúc trong việc huy động nguồn lực đầu tư chuẩn hóa 139 chợ theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 11856:2017.

Tại sao các chợ truyền thống loại III lại là điểm nóng về nguy cơ mất an toàn thực phẩm? 126 chợ loại III tại Thái Nguyên chiếm 90,6% tổng số chợ nhưng hạ tầng đã xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều điểm kinh doanh thiếu hệ thống thoát nước đạt chuẩn, không có quầy kệ chuyên dụng ngăn cách thực phẩm sống và thực phẩm chín, tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và lây nhiễm chéo các mầm bệnh truyền qua thực phẩm.

Những giải pháp trọng tâm nào sẽ được ưu tiên triển khai trong giai đoạn 2021-2025? Trọng tâm bao gồm việc bổ sung biên chế chuyên trách an toàn thực phẩm cho 9 phòng Kinh tế/Hạ tầng cấp huyện, số hóa 100% dữ liệu 4.616 cơ sở thực phẩm, nâng cấp ít nhất 30% số chợ truyền thống đạt chuẩn TCVN 11856:2017 và nâng tần suất thanh kiểm tra đột xuất đối với các cơ sở rượu, bánh kẹo nhỏ lẻ đạt trên 95%/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương tại địa bàn cấp tỉnh.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng quản lý 4.616 cơ sở thực phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016-2020 gắn liền với sự tăng trưởng kinh tế 10,47%/năm và áp lực từ hơn 100 bếp ăn tập thể tại các khu công nghiệp.
  • Chỉ rõ 3 điểm nghẽn then chốt: sự áp đảo của 90% cơ sở sản xuất thủ công nhỏ lẻ, sự thiếu hụt cán bộ chuyên trách tại 9 huyện và 180 xã, cùng sự xuống cấp của 126 chợ truyền thống loại III.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp khả thi, đồng bộ về thể chế, tổ chức bộ máy, hạ tầng thương mại, kiểm tra giám sát và truyền thông đào tạo cho giai đoạn 2021-2025.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền, doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng tỉnh Thái Nguyên chung tay hành động, đưa công tác quản lý an toàn thực phẩm trở thành động lực phát triển bền vững cho nền kinh tế địa phương.