CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM THUỘC TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ CỦA NGÀNH CÔNG THƯƠNG Ở CẤP TỈNH 1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương 1.1 Một số khái niệm liên quan đến công tác quản lý, đảm bảo an toàn thực phẩm Thực phẩm: Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [4]. An toàn thực phẩm: An toàn thực phẩm (ATTP) là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người; thực phẩm không bị hư hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; thực phẩm không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng [4]. Ô nhiễm thực phẩm: Theo Luật ATTP năm 2010, ô nhiễm thực phẩm (ÔNTP) là sự xuất hiện tác nhân làm ô nhiễm thực phẩm gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [4].
Ngộ độc thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm (NĐTP) là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc. Có 2 loại ngộ độc thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm cấp tính và ngộ độc thực phẩm mãn tính [4]. Sản xuất thực phẩm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm [4]. Chế biến thực phẩm: Là quá trình xử lý thực phẩm đã qua sơ chế hoặc thực phẩm tươi sống theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công để tạo thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm [4].
7 Kinh doanh thực phẩm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm [4]. Bệnh truyền qua thực phẩm: Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh do ăn, uống thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của con người. Hiện tượng dị ứng do mẫn cảm của cá thể với một loại thức ăn được xác định nào đó không được coi là bệnh truyền qua thực phẩm [4]. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống: Đây là khái niệm chỉ các cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể [4].
Hệ thống kiểm nghiệm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Về hệ thống kiểm nghiệm ATTP, hiện nay các Phòng kiểm nghiệm của 6 trung tâm vùng thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 3 Trung tâm kỹ thuật của Bộ Khoa học và công nghệ, 4 Viện trực thuộc Bộ Y tế và 17 tỉnh, thành phố có Phòng kiểm nghiệm được công nhận ISO/IEC/17025. Việc kiểm nghiệm ATTP thường xuyên được tiến hành định kỳ và đột xuất qua các đợt thanh tra, kiểm tra. Các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm: Điều kiện bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng con người. Thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương: Là các sản phẩm thực phẩm theo quy định tại Luật ATTP năm 2010, bao gồm: Bia, rượu, nước giải khát, đường, sữa và các sản phẩm từ sữa, bánh mứt kẹo, dầu thực vật, tinh bột, các loại bánh từ bột [4].
Quản lý nhà nước (QLNN): Là sự tác động của nhà nước lên các đối tượng quản lý của nà nước, bao gồm: Các tổ chức, cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội một cách thường xuyên, liên tục để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đề ra đó là ổn định và phát triển xã hội.2 Vai trò của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Trong xã hội liên quan đến con người có nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau, an toàn thực phẩm là một lĩnh vực quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người. Để điều chỉnh các hành vi trong các lĩnh vực đời sống xã hội nói chung, an toàn thực phẩm nói riêng rất cần có các văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành về an toàn thực phẩm chung và thực phẩm thực ngành Công Thương quản lý cũng là những quy tắc xử sự chung nằm trong khuôn khổ pháp luật. Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật bảo đảm an toàn thực phẩm vừa có những vai trò của pháp luật nói chung vừa có những vai trò riêng của nó.
Đó là những quy phạm pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này, là cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm trên địa bàn cả nước, tỉnh Thái Nguyên. Nó được thể hiện như sau: Thứ nhất, là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quy định hệ thống và hoạt động của các cơ quan làm nhiệm vụ chức năng trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm trong cả nước từ địa phương đến Trung ương. Thứ hai, là khuôn mẫu cho việc điều chỉnh các hành vi, các quan hệ xã hội để bảo đảm an toàn thực phẩm. Pháp luật ATTP là cơ sở để cho mọi người biết mình được làm gì, không được làm gì, phải làm gì để giữ gìn an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Thứ ba, là cơ sở cho việc thanh tra, giám sát, quản lý, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực này của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên ngành Công Thương. Từ đó góp phần làm cho an toàn thực phẩm được nâng cao, ngăn chặn và đẩy lùi mọi hành vi làm mất an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Thứ tư, là cơ sở pháp lý cho mọi người dân được kiểm tra, giám sát các hành vi trái pháp luật, làm mất an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngành Công Thương, các hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước theo thẩm quyền. 9 Qua đó, ta thấy được rằng pháp luật bảo đảm ATTP nói chung và an toàn thực phẩm ngành Công Thương ngày càng có vai trò quan trọng, và cũng thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với lĩnh vực này ngày một cao hơn, đặc biệt trong tình hình hiện nay.3 Nội dung công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm quản lý của ngành Công Thương Công tác quản lý nhà nước (QLNN) về ATTP thuộc lĩnh vực các ngành và của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo quy định của pháp luật bao gồm rất nhiều nội dung.
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu tập trung vào các nội dung cơ bản nhất trong công tác QLNN về ATTP bao gồm: Công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm; công tác xây dựng kế hoạch quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn triển khai các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn về an toàn thực phẩm; công tác cấp, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm; công tác phối hợp giữa các cấp, ngành của tỉnh trong quản lý về an toàn thực phẩm; công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh; công tác báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện và kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, cụ thể: a) Công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm - Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền: Căn cứ vào tình hình thực tế công tác quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn cả nước và để quản lý được các hoạt động sản xuất kinh doanh thực phẩm, các cơ quan của nhà nước, Trung ương, các Bộ, ngành và địa phương đã ban hành các văn bản pháp luật, cụ thể: Quốc hội ban hành Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn, quy định một số điều trong Luật ATTP, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương ban hành các Thông tư và Quyết định về ATTP. Đáng chú ý Luật an toàn thực phẩm đã phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP cho 3 Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công Thương theo nguyên tắc quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ thể; Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 [5] và Nghị định số 15/2018/NĐ-CP 10 ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm [6] và Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực ATTP [7] là những VBQPPL được các tổ chức quốc tế đánh giá là cách tiếp cận hiện đại. Đối với từng địa phương, căn cứ vào thực tế công tác ATTP và các cơ quan nhà nước tại địa phương sẽ ban hành các quyết định, văn bản để cụ thể hóa các Luật, Nghị định, Thông tư và các Quyết định của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ngành để phù hợp công tác QLNN và quy định công tác phối hợp giữa các cơ quan ngang sở, các huyện trong công tác phối hợp QLNN về ATTP. Ví dụ như: Đối với các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của 3 bộ, để thống nhất hướng dẫn thực hiện, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương ban hành 3 Thông tư liên tịch hướng dẫn, trong đó Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09/4/2014 [8] đã cụ thể hóa nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATTP cho ba bộ với nguyên tắc cơ bản là: Một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lý của một cơ quan quản lý nhà nước.