PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Giáo dục đại học với trọng trách đào tạo nguồn nhân lực tri thức, được coi như “nguồn nguyên khí” quốc gia đồng thời có ý nghĩa quyết định đến “vận mệnh” của đất nước, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức. Sứ mệnh này đòi hỏi giáo dục đại học ở nước ta phải chuyển sang phương thức đào tạo có tính mềm dẻo, đáp ứng nhu cầu người học về thời gian, năng lực cũng như đáp ứng thị trường lao động với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường. Với tầm nhìn chiến lược, ngay từ năm 1993, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích các trường đại học cải tiến học chế học phần để có học chế học phần triệt để hơn, tiến tới áp dụng hoàn toàn phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
Trường Đại học Bách Khoa TP. HCM là trường đầu tiên triển khai phương thức đào tạo này. Một phương thức được khởi xướng từ Viện Đại học Harvard, Hoa Kì vào năm 1872, và sau đó lan rộng ra khắp Bắc Mĩ và thế giới. Triển khai phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ trong giáo dục đại học vừa thừa kế các đặc điểm dạy học ở bậc đại học nói chung vừa phải phát huy các yếu tố tích cực là theo quan điểm “dạy học lấy người học làm trung tâm” trong triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ nói riêng.
Đồng thời, sinh viên sẽ có nhiều khả năng lựa chọn chương trình đào tạo. (Đặng Xuân Hải, 2013, tr.51) Phương thức đào tạo này đã được đưa vào Luật Giáo dục, bắt buộc các trường đại học phải triển khai. Ở Khoản 4 trong Điều 8. Chương trình giáo dục của Luật Giáo dục đã xác định “Chương trình giáo dục được tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ hoặc kết hợp giữa tín chỉ và niên chế đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
2 Khi triển khai phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, các trường đại học bên cạnh những kết quả đạt được cũng gặp không ít khó khăn, trong đó có yếu tố quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ. Gần 10 năm trở lại đây, có nhiều công trình nghiên cứu ở trình độ tiến sĩ về quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ như luận án của các tác giả Nguyễn Mai Hương (2011), Cao Thị Châu Thủy (2016), Trần Văn Chương (2016) và Vũ Thị Hòa (2016). Cả bốn luận án đều chỉ ra những hạn chế trong quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ. Tiêu biểu, trong luận án “Quản lí quá trình đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” của Cao Thị Châu Thủy đã xác định hạn chế thuộc về nhiệm vụ, công việc các chủ thể thực hiện: “Các vị trí quản lí cấp trên như ban giám hiệu và ban chủ nhiệm khoa, trưởng phó các phòng ban chưa có những phương hướng, kế hoạch cụ thể cho việc chỉ đạo các chủ thể cấp dưới thực hiện như ở công tác cố vấn, tư vấn, kiểm tra đánh giá quá trình; Còn thiếu các quy trình, quy định, công cụ quản lí cụ thể trong quá trình thực hiện, dẫn tới các hoạt động quản lí của các chủ thể chưa thực sự có hiệu quả và tạo sự thống nhất trong công việc; Hoạt động bồi dưỡng, chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ của các chủ thể ở mỗi khía cạnh quản lí đào tạo, chưa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt là ở vị trí cố vấn, tư vấn học tập và kiểm tra - đánh giá quá trình.
Phần lớn các chủ chể chưa coi trọng hoạt động kiểm tra - đánh giá quá trình dẫn đến thiếu sự thay đổi, đổi mới trong công việc, nên hiệu quả công việc chưa cao.118) Những hạn chế này cho thấy thực tiễn của công tác quản lí thực chất chỉ là “bình cũ rượu mới” trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Thực chất này cũng xảy ra ở các trường đại học tư thục, điển hình là ở Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, đào tạo theo học chế tín chỉ được triển khai từ năm 2011, nhưng sau 6 năm thực hiện vẫn còn những tồn tại chính như: 1) Chương trình đào tạo (CTĐT): Số lượng các học phần tự chọn còn ít do nguồn lực giảng viên (GV) của nhà trường chưa phong phú. Tính chất đáp ứng linh hoạt theo nhu cầu xã hội của một vài CTĐT chưa cao. Trường chưa tổ chức được các hội nghị chuyên đề để lấy ý kiến đóng góp về CTĐT từ các Sở Giáo dục, nhà tuyển dụng lao động, các cựu sinh viên.
Trường chưa tạo được nhiều sự liên thông ngang giữa các học phần giữa Trường với nhiều trường khác có đào tạo cùng ngành, khối ngành trên cả nước. Tính linh 3 hoạt ở một số CTĐT khi chuyển đổi còn chưa cao. 2) Hoạt động đào tạo: Chưa thành lập được đơn vị độc lập làm công tác khảo thí chung cho toàn trường; các viện tổ chức thi chưa đồng bộ về tổ chức, chưa tiết kiệm được nguồn lực, kinh phí. Còn nhiều học phần tổ chức thi theo hình thức tự luận nên chưa bao quát hết được các nội dung chương trình, chưa thực sự khách quan, kết quả còn phụ thuộc vào người đánh giá.
3) Đội ngũ cán bộ quản lí, GV và nhân viên: Đội ngũ cán bộ quản lí mới được bổ nhiệm hầu hết đều có khả năng chuyên môn, tuy nhiên kĩ năng quản lí, điều hành ở một vài đơn vị chưa theo kịp yêu cầu. Đội ngũ GV, mặc dù đủ số lượng tuy nhiên cơ cấu ngành chưa phù hợp, vẫn còn tình trạng có GV dạy nhiều giờ trong khi một số khác không đủ giờ chuẩn theo quy định. (Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu, 2017) Từ những tồn tại này có thể thấy chương trình đào tạo của trường chưa thỏa mãn đào tạo theo học chế tín chỉ và nhà trường chưa quan tâm đến chuyên môn của GV phù hợp với ngành nghề đào tạo. Đồng thời, nhà trường vẫn chưa chú trọng công tác cố vấn học tập, đây là một trong những đặc điểm cơ bản của đào tạo theo học chế tín chỉ, nhưng trong bản “Báo cáo tự đánh giá” của trường không có tiêu chí hay đề cập đến công tác này.
Những tồn tại tương tự như vậy cũng đang hiện hữu ở Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương. Theo số liệu thống kê đến tháng 11 năm 2017 của Trường, có 158 GV cơ hữu, trong đó chỉ có 53% GV ở trình độ thạc sĩ trở nên và 3593 SV, HS hệ chính qui. Vì vậy, quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học tư thục miền Đông Nam Bộ như là biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại nên bắt buộc các trường phải thực hiện. Do đó, nghiên cứu quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học tư thục miền Đông Nam Bộ là cấp bách và cần thiết.
Trên cơ sở lí luận về đào tạo và quản lí đào tạo theo học tín chỉ hay hệ thống tín chỉ, tác giả luận án nghiên cứu quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ bằng tiếp cận thành tố của đào tạo theo học chế tín chỉ kết hợp với chức năng quản lí. Hoàn thành luận án sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lí và triển khai thành công đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ, cũng như thực hiện tốt chủ trương “đổi mới căn bản và toàn diện” giáo dục đại học Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong trường đại học tư thục và điều tra thực trạng quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong 5 trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ. Trên cơ sở đó, đề xuất biện pháp quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ.
Nhiệm vụ nghiên cứu Căn cứ vào mục đích nghiên cứu trên, luận án đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Xác định cơ sở lí luận về đào tạo và quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học; - Điều tra thực trạng đào tạo và quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở miền Đông Nam Bộ; - Đề xuất một số biện pháp quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ; - Thực nghiệm một biện pháp quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong năm trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ: Trường Đại học Hoa Sen và Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu; Trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Bình Dương và Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: Quản lí đào tạo trong nhà trường theo Nguyễn Đức Trí (2010, tr.56) bao gồm 6 nội dung, trong luận án chỉ tập trung vào 4 nội dung: quản lí tuyển sinh; quản lí chương trình đào tạo; quản lí hoạt động giảng dạy của giảng viên và hoạt động học tập của sinh viên; quản lí việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập. - Về địa bàn nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát 5 trường ở TP HCM và 3 tỉnh, trong đó: TP HCM gồm Trường Đại học Hoa Sen và Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng; Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khảo sát tại Trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu; Trường Đại học Kinh tế - Kĩ thuật Bình Dương đại diện cho tỉnh Bình Dương; và tỉnh Đồng Nai là Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. - Về chủ thể quản lí: Có nhiều đối tượng cùng tham gia quản lí đào tạo, luận 5 án này chỉ nghiên cứu quản lí của Hiệu trưởng, trưởng phòng, trưởng khoa trong mối tương tác phân cấp quản lí đối với quản lí đào tạo theo học chế tín chỉ trong các trường đại học tư thục ở miền Đông Nam Bộ.
- Về đối tượng điều tra: Khảo sát 384 cán bộ quản lí, giảng viên, cố vấn học tập của và 600 sinh viên đại học chính quy đang theo học ở 5 trường đại học tư thục miền Đông Nam Bộ. - Về thời gian: + Nghiên cứu thực trạng: Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 2 năm 2018.