Quan hệ Việt Nam - Lào trong lĩnh vực giáo dục - Luận văn thạc sĩ

Tổng quan quan hệ hợp tác Việt Nam Lào trong lĩnh vực giáo dục từ 2011 đến nay. Phân tích kết quả đào tạo nhân lực, học bổng và phương hướng phát triển.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

127
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quan hệ Việt Nam Lào giáo dục 2011 2024

Quan hệ giáo dục Việt Nam-Lào từ năm 2011 đến nay phát triển mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của hai Đảng và Nhà nước. Hai quốc gia đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác giáo dục quan trọng như Hiệp định hợp tác đào tạo nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015, Hiệp định hợp tác giáo dục đại học 2016, và Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao 2017-2020. Việt Nam cung cấp học bổng cho hơn 12.000 lưu học sinh Lào, chiếm 90% lưu học sinh Lào tại nước ngoài. Các chương trình đào tạo đa dạng từ đại học đến tiến sĩ được triển khai, tập trung vào lĩnh vực khoa học xã hội, quản lý nhà nước và công nghệ. Hoạt động trao đổi giảng viên, sinh viên diễn ra thường xuyên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hai nước. Sự hợp tác này không chỉ củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống mà còn đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho cả hai quốc gia.

1.1. Hợp tác đào tạo theo hiệp định song phương

Hợp tác đào tạo theo hiệp định song phương là nền tảng quan trọng trong quan hệ giáo dục Việt Nam-Lào. Từ năm 2011, hai nước đã ký 5 hiệp định quan trọng, trong đó Hiệp định hợp tác giáo dục đại học 2016 đóng vai trò then chốt. Chương trình học bổng toàn phần dành cho lưu học sinh Lào bao gồm học phí, sinh hoạt phí và chi phí đi lại. Năm 2020, Việt Nam đào tạo 150 tiến sĩ Lào theo chương trình hợp tác đảng. Các trường đại học hai nước tổ chức chương trình liên kết đào tạo, cấp bằng song song như Đại học Quốc gia Lào - Đại học Bách khoa Hà Nội. Chất lượng đào tạo được nâng cao thông qua việc cập nhật chương trình giảng dạy theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo tính thực tiễn và ứng dụng.

1.2. Đào tạo tiếng Việt cho lưu học sinh Lào

Đào tạo tiếng Việt cho lưu học sinh Lào là chương trình trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả học tập tại Việt Nam. Năm 2019, hơn 1.000 lưu học sinh Lào được đào tạo tiếng Việt trước khi nhập học chính thức. Chương trình bao gồm 2.000 giờ học trong 12 tháng, tập trung vào giao tiếp cơ bản và chuyên ngành. Các trường đại học như Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia giảng dạy. Kết quả khảo sát năm 2022 cho thấy 85% lưu học sinh đạt trình độ tiếng Việt B1 sau khóa đào tạo. Chương trình này giúp học sinh nhanh chóng hòa nhập môi trường học tập tại Việt Nam, góp phần nâng cao tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn lên 92%.

II. Phân tích thực trạng quan hệ giáo dục Việt Nam Lào 2011 2024

Quan hệ giáo dục Việt Nam-Lào giai đoạn 2011-2024 đạt nhiều thành tựu đáng kể nhưng vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Về mặt tích cực, hợp tác giáo dục đã mở rộng quy mô đào tạo, từ 5.000 lưu học sinh năm 2011 lên hơn 12.000 năm 2023. Chất lượng đào tạo được cải thiện thông qua việc áp dụng phương pháp giảng dạy tiên tiến và tăng cường trao đổi giảng viên. Tuy nhiên, hệ thống quản lý đào tạo còn thiếu đồng bộ, dẫn đến tình trạng chậm trễ trong cấp phát học bổng. Bất cập về ngôn ngữ cũng là rào cản lớn khi nhiều lưu học sinh gặp khó khăn trong giao tiếp ban đầu. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa hai nước ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo liên thông. Đáng chú ý, đại dịch COVID-19 năm 2020-2021 đã gián đoạn hoạt động trao đổi sinh viên, buộc hai nước phải chuyển sang hình thức đào tạo trực tuyến.

2.1. Những thành tựu nổi bật trong hợp tác

Thành tựu nổi bật nhất là sự gia tăng đáng kể số lượng lưu học sinh Lào tại Việt Nam, từ 5.000 năm 2011 lên 12.500 năm 2023. Chương trình đào tạo tiến sĩ theo hiệp định đảng đã đào tạo thành công 150 tiến sĩ Lào, góp phần quan trọng vào công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo cho Lào. Các trường đại học hai nước đã triển khai thành công 12 chương trình liên kết đào tạo, cấp bằng song song. Năm 2019, Việt Nam đã cử 10 giáo viên sang Lào giảng dạy tiếng Việt cho học sinh Việt kiều. Đặc biệt, đề án đưa nội dung quan hệ đặc biệt hai nước vào giảng dạy tại trường học đã được nghiệm thu và chuẩn bị triển khai.

2.2. Những hạn chế và thách thức

Hạn chế lớn nhất là hệ thống quản lý đào tạo thiếu thống nhất giữa hai nước, dẫn đến chậm trễ trong cấp phát học bổng. Nhiều lưu học sinh Lào gặp khó khăn trong giao tiếp tiếng Việt, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập. Bất cập về trình độ đầu vào giữa sinh viên hai nước gây khó khăn trong đào tạo liên thông. Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn hoạt động trao đổi sinh viên, buộc chuyển sang hình thức đào tạo trực tuyến. Ngoài ra, sự chênh lệch về mức sống giữa hai nước cũng ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập của lưu học sinh Lào.

III. Giải pháp tăng cường hợp tác giáo dục Việt Nam Lào

Để nâng cao hiệu quả hợp tác giáo dục, hai nước cần triển khai đồng bộ các giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống quản lý đào tạo thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý giáo dục hai nước. Việc đào tạo tiếng Việt cho lưu học sinh Lào nên được mở rộng với chương trình 18 tháng thay vì 12 tháng hiện nay. Các trường đại học cần tăng cường trao đổi giảng viên, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội và quản lý nhà nước. Hợp tác nghiên cứu khoa học giữa hai nước cũng cần được đẩy mạnh thông qua việc thành lập quỹ nghiên cứu chung. Đặc biệt, hai nước nên đẩy nhanh tiến độ triển khai đề án đưa nội dung quan hệ đặc biệt vào giảng dạy tại trường học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo trực tuyến cũng cần được quan tâm đầu tư.

3.1. Nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt

Nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt là giải pháp then chốt để cải thiện hiệu quả học tập của lưu học sinh Lào. Chương trình đào tạo nên kéo dài từ 12 tháng lên 18 tháng, bổ sung thêm 500 giờ học. Các trường đại học cần xây dựng giáo trình chuyên ngành bằng tiếng Việt phù hợp với trình độ lưu học sinh. Việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy như ứng dụng học tiếng Việt trực tuyến, phần mềm luyện nghe nói cần được đẩy mạnh. Các trường nên tổ chức các câu lạc bộ tiếng Việt sau giờ học để tạo môi trường giao tiếp thực tế. Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo giáo viên tiếng Việt có kinh nghiệm giảng dạy lưu học sinh Lào.

3.2. Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học

Hợp tác nghiên cứu khoa học giữa hai nước cần được đẩy mạnh thông qua việc thành lập quỹ nghiên cứu chung. Các trường đại học hai nước nên tổ chức hội thảo khoa học định kỳ để trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu. Việc triển khai đề tài nghiên cứu chung về lịch sử quan hệ hai nước, kinh tế-xã hội, môi trường cần được ưu tiên. Hai nước cũng nên khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học thông qua việc cấp học bổng nghiên cứu ngắn hạn. Việc xuất bản chung các công trình nghiên cứu cũng cần được quan tâm để tăng cường trao đổi tri thức giữa hai nước.

IV. Triển vọng quan hệ giáo dục Việt Nam Lào đến 2030

Quan hệ giáo dục Việt Nam-Lào có triển vọng phát triển mạnh mẽ đến năm 2030 nhờ vào sự ủng hộ của lãnh đạo hai nước và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo dự báo, số lượng lưu học sinh Lào tại Việt Nam sẽ tăng lên 15.000 vào năm 2025 và 20.000 vào năm 2030. Chương trình đào tạo tiến sĩ theo hiệp định đảng dự kiến sẽ đào tạo 300 tiến sĩ Lào trong giai đoạn 2025-2030. Hai nước sẽ triển khai chương trình đào tạo kép tại cả hai quốc gia, cho phép sinh viên học tập xen kẽ giữa Việt Nam và Lào. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý đào tạo và giảng dạy sẽ được đẩy mạnh. Đặc biệt, đề án đưa nội dung quan hệ đặc biệt vào giảng dạy sẽ được triển khai rộng rãi tại cả hai nước, góp phần củng cố tình hữu nghị truyền thống.

4.1. Dự báo quy mô hợp tác giáo dục

Quy mô hợp tác giáo dục Việt Nam-Lào dự kiến sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2025-2030. Số lượng lưu học sinh Lào tại Việt Nam sẽ tăng từ 12.500 năm 2024 lên 20.000 năm 2030. Chương trình đào tạo tiến sĩ sẽ tăng từ 150 tiến sĩ giai đoạn 2017-2022 lên 300 tiến sĩ giai đoạn 2025-2030. Số lượng chương trình liên kết đào tạo cấp bằng song song sẽ tăng từ 12 lên 25 chương trình. Hai nước cũng sẽ triển khai chương trình đào tạo kép tại cả hai quốc gia, cho phép 5.000 sinh viên học tập xen kẽ giữa Việt Nam và Lào mỗi năm.

4.2. Định hướng phát triển quan hệ giáo dục

Định hướng phát triển quan hệ giáo dục giai đoạn 2025-2030 tập trung vào ba trụ cột chính. Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong giảng dạy và quản lý. Thứ hai, đa dạng hóa chương trình đào tạo với sự tham gia của khu vực tư nhân và doanh nghiệp. Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, hai nước sẽ đẩy nhanh tiến độ triển khai đề án đưa nội dung quan hệ đặc biệt vào giảng dạy tại 100% trường học ở cả hai nước.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ Việt nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục từ năm 2011 đến nay Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục từ năm 2011 đến nay – Thực trạng và đánh giá Chương 3: Dự báo và giải pháp tăng cường quan hệ Việt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục trong thời gian tới 11 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM - LÀO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm quan hệ quốc tế Học thuyết Mác – Lênin cho rằng quan hệ xã hội là do quan hệ vật chất (đó là hình thức kinh tế – xã hội, hiện tượng xã hội) quyết định ra. Quan hệ quốc tế là quan hệ xã hội được tiếp tục trong phạm vi quốc tế.

Động lực chính thúc đẩy sự ra đời của quan hệ quốc tế là đấu tranh giải quyết các mặt đối kháng giữa các giai cấp, các nhà nước và các hệ thống xã hội. Sự cân bằng quyền lực của các giai cấp, các nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội sẽ quyết định các quan hệ quốc tế. Trong một cuốn sách xuất bản tại Vương quốc Anh, tác giả cho rằng quan hệ quốc tế là "mối quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao, ý thức hệ, quân sự, mối quan hệ qua lại và liên hệ lẫn nhau của các quốc gia. các quốc gia và các nhóm quốc gia, các tầng lớp xã hội, chính trị, kinh tế và các lực lượng xã hội; các tổ chức chính trị - xã hội và các phong trào hoạt động trên trường quốc tế” [39, tr10].

Nhà tư tưởng Anh Jeremy Bentam (1978 - 1832) cho rằng Quan hệ quốc tế là sự giao tiếp giữa các quốc gia. Trong Giáo trình nhập môn Quan hệ quốc tế, các nhà khoa học của Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cho rằng Quan hệ quốc tế là sự tương tác qua biên giới giữa các chủ thể quan hệ quốc tế. Tương tác là tác động qua lại có tính hai chiều tức là gồm cả tác động từ chủ thể này và phản ứng của chủ thể kia [12]. Đề tài khoa học định hướng giáo trình “Quan hệ quốc tế” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền cũng đã đưa ra khái niệm về quan hệ quốc tế khá cụ 12 thể và rõ ràng: quan hệ quốc tế là mối quan hệ qua lại giữa các chủ thể quan hệ quốc tế (quốc gia, tổ chức quốc tế, các phong trào, các giai cấp xã hội, các lực lượng…) vượt biên giới quốc gia trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, quân sự, luật pháp, tư tưởng, an ninh.

trong đó quan hệ chính trị quốc tế là quan hệ cơ bản và quan trọng nhất [33, Tr. Đây cũng là quan niệm luận văn sử dụng để làm cơ sở cho phân tích quan hệ Việt Nam và Lào trong lĩnh vực giáo dục. Quan hệ quốc tế được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau trong đó: Thứ nhất là xét về số lượng chủ thể có thể chia: quan hệ song phương, quan hệ đa phương. Thứ hai xét về tính chất và trạng thái: quan hệ hợp tác hoặc đấu tranh.

Thứ ba xét về lĩnh vực: quan hệ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trong đó có lĩnh vực giáo dục. Thứ tư là xét về quy mô: quan hệ khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Những tiêu chí phân loại này có vai trò quan trọng trong việc xác định và phân tích quan hệ Việt Nam – Lào trong lĩnh vực giáo dục hiện nay. Trong luận văn, quan hệ Việt Nam – Lào là quan hệ song phương với trạng thái chủ đạo là hợp tác ở lĩnh vực giáo dục.

Giáo dục và vai trò của giáo dục Có nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục. Trong xã hội, người lớn dạy cho lớp trẻ những kiến thức và kỹ năng mà họ cần nắm vững và truyền lại cho thế hệ sau. Cả sự phát triển văn hóa và sự tiến hóa của con người đều phụ thuộc vào phương thức truyền tải kiến thức này. Ở các xã hội tồn tại trước khi có chữ viết, việc giáo dục được thực hiện bằng cách truyền miệng và bằng cách bắt chước.

Những câu chuyện kể được tiếp tục từ đời này sang đời khác. Rồi ngôn ngữ nói phát triển thành những chữ và ký hiệu. Chiều sâu và độ rộng của kiến thức có thể được bảo tồn và trao truyền gia tăng vượt bậc. Giáo dục và đi học chính thức cuối cùng sẽ xuất hiện khi các nền văn hóa bắt đầu 13 mở rộng kiến thức ngoài các kỹ năng cơ bản như giao tiếp, đổi hàng, kiếm tiền và theo một tôn giáo.

Giáo dục được định nghĩa theo từng góc nhìn khác nhau: Giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người. Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới tác động chủ quan và khách quan có ý thức và vô thức của cuộc sống và môi trường xã hội. Giáo dục cũng có thể hiểu là giáo dục xã hội. Đó là một hoạt động xã hội có mục đích, có nhiều năng lực giáo dục tác động một cách có hệ thống đến con người để hình thành nhân cách của họ.

Ngoài ra, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm. Quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách. Như vậy, giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp. Giáo dục cũng được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu [6, Tr.15] Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người.

Trong phạm vi hoạt động, giáo dục là quá trình tác động của chủ thể giáo dục tới đối tượng được giáo dục nhằm đạt được mục đích giáo dục. Đó là sự truyền thụ và lĩnh hội lịch sử, kinh nghiệm xã hội của nhiều thế hệ con người, nhờ có giáo dục mà sự phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác, những tinh hoa văn hóa của con người và của dân tộc được kế thừa và bổ sung cho nhau. Tóm lại, giáo dục được hiểu là quá trình dạy và học (đặc biệt nhấn mạnh trong trường học) tác động có hệ thống đến con người để phát triển trí tuệ, hình thành và hoàn thiện nhân cách. Giáo dục gồm nhiều nội dung trong đó có nội dung trọng yếu là đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng trong 14 nhiều môi trường nhưng cơ bản và có tính pháp lý là ở trong trường học.

Giáo dục có vai trò mấu chốt cực kỳ quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển kinh tế thì cũng cần rất nhiều nguồn lực như nguồn nhân lực, nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên,… Trong đó nguồn nhân lực (người lao động) là quan trọng nhất. Thật vậy, để có thể đưa xã hội càng càng phát triển hơn, bắt buộc phải có nguồn nhân lực có trình độ cao, có kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội cần phải có giáo dục.

Bởi vì thông qua hệ thống giáo dục và dạy học, bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có trình độ cao, một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất; mặt khác, để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu, hiện đại hóa, công nghiệp hóa …). Chất lượng nguồn nhân lực được quy định bởi trình độ được đào tạo (kỹ năng, kỹ thuật, kỹ xảo, tri thức, năng lực công nghiệp,…). Tất cả đều do giáo dục quyết định. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là tạo động lực cho sự phát triển kinh tế [6].

Giáo dục là một trong những lĩnh vực của quan hệ quốc tế. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đang ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng. Các hoạt động đào tạo quốc tế cũng diễn ra rất sôi nổi và dần có sự hiện diện, tầm ảnh hưởng nhất định đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo mỗi quốc gia. Nó như một công cụ hữu hiệu của nền kinh tế tri thức, đồng thời còn là chìa khóa để tạo ra và mở rộng kiến thức đối với mỗi cá nhân và mỗi quốc gia khi kế thừa tinh hoa tri thức của nhân loại.

Hơn thế nữa, giáo dục góp phần kết nối các quốc gia bởi lĩnh vực giáo dục là lĩnh vực nhân văn và nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo và nhân dân các nước. Nhiều chương trình hợp tác giáo dục nổ ra, gồm nhiều hoạt động khác nhau: công nhận văn bằng 15 tín chỉ, các hoạt động liên kết đào tạo, trao đổi học thuật, kiểm định chất lượng. Các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ: thông qua các đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu hợp tác giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu và các nhà khoa học với các đối tác nước ngoài; thông qua các hoạt động hội nghị, hội thảo; thông tin, xuất bản chung; chuyển giao công nghệ… Thông qua các chương trình trao đổi, hợp tác trong giáo dục, nghiên cứu khoa học, quốc gia sẽ nhận được những thiện chí từ các chủ thể tham gia, những người mà sẽ có khả năng đưa ra khuyến nghị và tác động tới chính phủ của họ. Sau khi về nước, bên cạnh những kiến thức thu được, họ có thêm những trải nghiệm cuộc sống quý giá về nền văn hóa và nền giáo dục tại đất nước mà họ đã đến, đồng thời họ cũng là những sợi dây giúp tuyên truyền những thông tin đó tới gia đình, tới bạn bè, đồng nghiệp của họ.

Ngoài ra, giáo dục còn góp phần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ