Chương 1: Các nhân tố tác động đến hoạt động hợp tác quốc tế của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2013 đến năm 2020. Chương này phân tích tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, một số khái niệm cơ bản, hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo của ASEAN và khái quát thực tiễn hợp tác quốc tế của các trường thành viên trước năm 2013. Chương 2: Thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 2013 đến năm 2020. Chương này phân tích thực trạng hợp tác quốc tế của các trường thành viên trên các khía cạnh đào tạo, nghiên cứu khoa học và các lĩnh vực khác.
Chương 3: Kết quả, triển vọng và khuyến nghị hoạt động hợp tác quốc tế của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 2013 đến năm 2020. Chương này đánh giá các kết quả đạt được và chưa đạt được, đồng thời dự báo về triển vọng hợp tác quốc tế trên cơ sở đưa ra các khuyến nghị cho công tác này trong thời gian tới. 11 NỘI DUNG Chƣơng 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2020 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm hợp tác quốc tế trong giáo dục Bước sang thế kỷ 21 với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong xu hướng toàn cầu hóa lan tỏa mạnh mẽ, bất cứ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ cũng chịu ảnh hưởng của liên kết quốc tế. Có thể khẳng định, hiện nay mọi quốc gia đều phải đối mặt với rất nhiều khó khăn tiềm ẩn trên thế giới và trong khu vực như: khủng hoảng tài chính, tình hình bất ổn chính trị, thiên tai do biến đổi khí hậu…, nhưng xu thế chủ đạo vẫn là hòa bình, hợp tác cùng phát triển. Sau khi nước ta thống nhất, tuyên bố độc lập chủ quyền từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thư ký Liên Hợp quốc, trong thư nêu rõ: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực.
Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ thuật của mình. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc” [10;tr. Nhận thức sâu sắc tư tưởng của Hồ Chủ tịch, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tìm ra nhiều phương hướng để tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia, ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài.
Hợp tác quốc tế luôn được coi trọng và tăng cường kể cả trong thời 12 chiến cũng như thời bình. Trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Những dấu mốc hợp tác quốc tế của Việt Nam có thể kể đến như sau: năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp quốc; tới năm 1978, Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa (SEV); năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); năm 1996, Việt Nam tham gia thành lập Hợp tác Á - Âu (ASEM); năm 1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC) và đặc biệt vào ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO. Những thành tựu trên là những minh chứng hết sức cụ thể cho sự nhất quán, kiên định trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng mối quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới.
Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phấn đấu để đạt được”. Trong quan hệ quốc tế, hợp tác là hình thức quan hệ thứ hai cùng với xung đột. Cũng theo tác giả: “Hợp tác là hình thức đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc. Khi xuất hiện các chủ thể quan hệ quốc tế tức là khi quốc gia và dân tộc hình thành, hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế.
Trong quá trình xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia, HTQT là một hiện tượng xuyên suốt các giai đoạn lịch sử. Có thể khẳng định rằng, hợp tác quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu trong quan hệ quốc tế và không một quốc gia muốn phát triển nào có thể đứng ngoài xu thế này. Hợp tác quốc tế trong giáo dục là phương thức khai thác kinh nghiệm quốc tế, tận dụng các tiến bộ khoa học-công nghệ, quy trình và phương pháp đào tạo cũng như nguồn viện trợ và cho vay của các tổ chức quốc tế và các nước để phát triển giáo dục. Loại hình và hình thức hợp tác quốc tế tại các cơ sở giáo dục đại học Thực tế ghi nhận các loại hình hợp tác về giáo dục rất khác nhau: 1) Phổ biến nhất là hợp tác bình đẳng.
Trong loại hình này, vai trò của các quốc gia là bình đẳng với nhau. Loại hình hợp tác này thường được thể hiện qua việc hai hay nhiều quốc gia tương đương nhau về trình độ phát triển cùng nhau xây dựng một chương trình trao đổi du học sinh, hoặc tiến hành công nhận bằng cấp, chứng chỉ của nhau. 2) Hợp tác dựa trên quan hệ nhà cung cấp – nhà thụ hưởng dịch vụ: Đây là loại hình hợp tác mà trong đó, giáo dục được xem như một dịch vụ. Hợp tác theo loại hình này thể hiện ở việc các cơ sở giáo dục đặt chi nhánh tại các quốc gia khác 3) Hợp tác dựa trên quan hệ tài trợ - nhận tài trợ: đây là loại hình hợp tác diễn ra phổ biến trong quan hệ giữa hai bên mà trình độ phát triển không tương đương.
Loại hình này thể hiện ở việc cùng nhau xây dựng chương trình học bổng du học tại nước có trình độ phát triển cao hơn, hoặc nước có trình độ phát triển cao hơn cử chuyên gia trợ giúp về mặt kỹ thuật cho nước có trình độ thấp hơn. Trên thực tế, các loại hình hợp tác này là không độc lập. Các quốc gia thường hợp tác bằng tất cả các loại hình kể trên và các loại hình hợp tác này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Về cơ bản, các hình thức HTQT trong GDĐH tại Việt Nam được xác định trên cơ sở nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm các nước phát triển trên thế giới cũng như rút ra từ thực tiễn quan hệ HTQT trong GDĐH; theo đó, Điều 44, Luật giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) [12, tr.71] đã quy định 9 hình thức HTQT của CSGDĐH gồm: (1) Liên kết đào tạo.
(2) Thành lập văn phòng đại diện của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam. 14 (3) Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học. (4) Tư vấn, tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị. (5) Bồi dưỡng, trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ quản lý và người học.
(6) Liên kết thư viện, trao đổi thông tin phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ; cung ứng chương trình đào tạo; trao đổi các ấn phẩm, tài liệu và kết quả hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ. (7) Tham gia các tổ chức giáo dục, khoa học, hội nghề nghiệp khu vực và quốc tế. (8) Mở văn phòng đại diện cơ sở giáo dục của Việt Nam ở nước ngoài. (9) Các hình thức hợp tác khác theo quy định của pháp luật.
Tùy vào điều kiện, đặc điểm, tiềm lực và mối quan hệ mà mỗi CSGDĐH có thể tiến hành toàn bộ hay một số hình thức hợp tác phù hợp với CSGDĐH đó. Tầm quan trọng của hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo Đầu tiên, hoạt động HTQT có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của các cơ sở giáo dục theo hướng hiện đại hóa, tiếp cận nền GD hiện đại trong khu vực và trên thế giới; đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thông qua hoạt động HTQT, các CSGD tại Việt Nam có thể rút ra các bài học quý báu trong việc đổi mới mô hình quản lý giáo dục, định hướng, cải tiến hệ thống và quy trình quản lý đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời tận dụng thời cơ và thế mạnh để thu hẹp khoảng cách giữa giáo dục Việt Nam và các nước phát triển. Trong quá trình đó, các CSGD có thể tận dụng các cơ hội, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các bạn bè quốc tế, cập nhật khoa học công nghệ tiên tiến qua các chương trình nghiên cứu chung, liên kết với các đối tác ngoài nước để từng bước 15 chuẩn hóa các chương trình đào tạo và đổi mới các phương pháp giảng dạy, nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế để tiến tới quốc tế hóa các chương trình, giáo trình giảng dạy.
Thứ hai, HTQT là một trong số các tiêu chuẩn xếp hạng trên các bảng xếp hạng các trường hàng đầu thế giới hiện nay và cũng là một trong số các yếu tố xác định CSGD chuẩn quốc gia theo quy định của Việt Nam. Trước xu thế quốc tế hóa khiến các cơ sở giáo dục không thể phát triển mà không chú trọng tới HTQT. Các bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu trên thế giới hiện nay như The Times Higher Education (THE) hay Quacquarelli Symonds (QS) đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến yếu tố quốc tế là những tiêu chí cơ bản khi xếp hạng, chẳng hạn như số bài báo khoa học quốc tế, tỉ lệ sinh viên quốc tế, số lượng chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, số lượng giảng viên quốc tế. Thông tư số 24/2015/TT-BGDĐT ngày 23/9/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) quy định chuẩn quốc gia đối với CSGDĐH với 5 tiêu chí HTQT liên quan [9, tr.