Tổng quan nghiên cứu
Trong thế kỷ 21, ngoại giao văn hóa đã trở thành một trong ba trụ cột đối ngoại then chốt bên cạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế. Trung Quốc đã sớm nhận thức tầm quan trọng của chiến lược này khi đặt mục tiêu trở thành cường quốc điện ảnh toàn cầu vào năm 2035, với chỉ tiêu tối thiểu 100 tác phẩm điện ảnh đạt doanh thu trên 100 triệu Nhân dân tệ (khoảng 15 triệu USD) mỗi năm. Nhằm hiện thực hóa tham vọng nâng cao sức mạnh mềm, nước này đã tận dụng tối đa các kỳ liên hoan phim quốc tế hạng A để truyền tải thông điệp văn hóa và giá trị cốt lõi ra thế giới.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung vào việc làm rõ cách thức Trung Quốc sử dụng điện ảnh làm công cụ ngoại giao văn hóa thông qua các tác phẩm tham gia Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải từ năm 2016 đến nay. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng triển khai, đánh giá mức độ hiệu quả và rút ra bài học kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu được xác định tại không gian văn hóa Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2016 (mốc ban hành Chiến lược phát triển tổng thể ngành văn hóa) đến năm 2022. Nghiên cứu mang ý nghĩa sâu sắc khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý đối ngoại tối ưu hóa chỉ số lan tỏa thương hiệu quốc gia, góp phần định vị hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Sức mạnh mềm của Giáo sư Joseph Nye khởi xướng từ năm 1990, kết hợp lý thuyết Ngoại giao văn hóa của Milton Cummings (2003) và học giả Bành Tân Lương (2008). Các lý thuyết này khẳng định văn hóa là công cụ đối ngoại hòa bình giúp gia tăng uy tín và khả năng thuyết phục của một quốc gia. Đồng thời, đề tài tiếp cận quan niệm của Ricciotto Canudo khi xếp điện ảnh là môn nghệ thuật thứ 7 được tổng hòa từ 6 loại hình nghệ thuật kinh điển trước đó.
Hệ thống khái niệm chính bao gồm: sức mạnh mềm, ngoại giao văn hóa, công nghiệp điện ảnh và ngoại giao nhân dân. Đề tài bám sát các định hướng trong Quyết định số 208/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về Chiến lược Ngoại giao Văn hóa và Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11 để xây dựng khung đánh giá chuẩn mực.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thu thập nguồn dữ liệu từ các tài liệu chính thống của Bộ Văn hóa Trung Quốc, kỷ yếu Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải và các ấn phẩm chuyên ngành uy tín. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 12 tác phẩm điện ảnh tiêu biểu đại diện cho các thể loại khác nhau được trình chiếu tại liên hoan phim từ năm 2016 đến năm 2021, điển hình như Cock and Bull, De Lan, Soul on a String, The Chinese Widow, The Conformist và Our Time Will Come.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để lựa chọn các bộ phim có dấu ấn nghệ thuật và giá trị quảng bá đối ngoại rõ nét. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích nội dung, phương pháp thống kê so sánh và phương pháp liên ngành giữa quan hệ quốc tế, truyền thông và văn hóa học. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bảo đảm việc đánh giá khách quan mối tương quan giữa chất lượng nghệ thuật, tính hiệu quả ngoại giao và doanh thu thương mại của từng tác phẩm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực tế mang lại 3 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, Trung Quốc đã chuyển hóa thành công dòng phim tuyên truyền thành các tác phẩm thương mại chất lượng cao. Các dự án do hãng phim tư nhân thực hiện vẫn truyền tải giá trị tư tưởng nhưng đạt hiệu quả tài chính vượt bậc, tiêu biểu như bộ phim Cock and Bull (2016) thu về 136 triệu Nhân dân tệ, vượt xa mức doanh thu trung bình của dòng phim độc lập.
Thứ hai, việc khai thác đề tài phong cảnh và bản sắc dân tộc thiểu số chiếm hơn 40% số lượng phim dự thi, tạo nên sức hút lớn đối với công chúng quốc tế. Phim Soul on a String (2016) với cảnh sắc Tây Tạng và phim De Lan (2016) về vùng cao Vân Nam đã giúp tăng mức độ nhận diện văn hóa bản địa lên hơn 60% thông qua các liên hoan phim quốc tế.
Thứ ba, chiến lược hợp tác quốc tế được mở rộng với việc mời đạo diễn 2 lần đoạt giải Cành cọ vàng Bille August cầm trịch bộ phim The Chinese Widow (2017), kết hợp dàn diễn viên ngôi sao Hollywood và Hoa ngữ để nâng tầm ảnh hưởng toàn cầu.
Thảo luận kết quả
Thành công của điện ảnh Trung Quốc xuất phát từ chính sách đầu tư đồng bộ và kiểm soát hạn ngạch nghiêm ngặt nhằm bảo hộ thị trường nội địa từ năm 2016. Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu của Terry Flew (2016) và Weiying Peng (2015), tác giả nhận định Trung Quốc đã phát triển thị trường điện ảnh vươn lên đứng thứ 2 thế giới và từng bước cạnh tranh với Bắc Mỹ.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ so sánh doanh thu phòng vé giai đoạn 2013 - 2025 và bảng thống kê phân loại 6 thể loại phim dự thi tại Thượng Hải. Tuy nhiên, một số hạn chế vẫn tồn tại khi các dự án đồng sản xuất đôi lúc bị phê bình là thiếu tính chân thực lịch sử và mang màu sắc tuyên truyền gượng gạo, khiến tỷ trọng doanh thu tại thị trường phương Tây chỉ chiếm dưới 5% tổng doanh thu toàn cầu.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kinh nghiệm của Trung Quốc, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược cho Việt Nam:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và xây dựng Chiến lược Ngoại giao văn hóa qua điện ảnh giai đoạn 2025 - 2030 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm văn hóa từ 10% đến 15% mỗi năm.
Thứ hai, thành lập Quỹ hỗ trợ sáng tạo điện ảnh đối ngoại trực thuộc Cục Điện ảnh, đặt chỉ tiêu tài trợ và đưa từ 3 đến 5 tác phẩm điện ảnh xuất sắc tham dự các liên hoan phim quốc tế danh giá mỗi năm từ nay đến năm 2030.
Thứ ba, áp dụng chính sách ưu đãi thuế từ 20% đến 30% để thu hút các đoàn làm phim quốc tế đến ghi hình tại các danh lam thắng cảnh của Việt Nam, mở rộng hợp tác đồng sản xuất nhằm nâng cao trình độ kỹ xảo và công nghệ.
Thứ tư, đổi mới tư duy biên kịch bằng cách lồng ghép khéo léo bản sắc văn hóa dân tộc và vẻ đẹp con người Việt Nam vào các câu chuyện mang tính nhân văn phổ quát, kết hợp công tác truyền thông đa nền tảng để tiếp cận khán giả toàn cầu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách đối ngoại và chuyên viên ngoại giao văn hóa tại Bộ Ngoại giao, giúp xây dựng các đề án quảng bá thương hiệu quốc gia thông qua các sự kiện tuần lễ phim và liên hoan phim quốc tế.
Nhóm 2: Cán bộ quản lý văn hóa và lãnh đạo Cục Điện ảnh, cung cấp cơ sở thực tiễn để hoàn thiện khung chính sách khuyến khích sản xuất phim xuất khẩu với tỷ lệ áp dụng thực tiễn đạt 100%.
Nhóm 3: Các nhà sản xuất phim, đạo diễn và biên kịch, cung cấp những bài học thực tế về việc cân bằng giữa yếu tố giải trí thương mại và việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong 2 phân khúc phim nghệ thuật và phim thị trường.
Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Báo chí truyền thông, Quản lý văn hóa và Điện ảnh học, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu khoa học.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải được chọn làm đối tượng khảo sát chính?
Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải là sự kiện điện ảnh hạng A duy nhất tại Trung Quốc được Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Nhà sản xuất Phim công nhận từ năm 1993. Đây là bệ phóng uy tín giúp thu hút hơn 400.000 lượt khách và các nhà phân phối quốc tế mỗi kỳ tổ chức.
Điện ảnh Trung Quốc đã kết hợp yếu tố thương mại và tuyên truyền như thế nào?
Các nhà làm phim đã áp dụng cấu trúc kịch bản hấp dẫn cùng kỹ xảo tiên tiến để truyền tải thông điệp xã hội. Điển hình như phim Cock and Bull (2016) đạt doanh thu 136 triệu Nhân dân tệ nhờ lồng ghép bài học nhân quả vào thể loại trinh thám kịch tính.
Thách thức lớn nhất của Trung Quốc khi xuất khẩu phim ra thế giới là gì?
Rào cản lớn nhất là sự khác biệt về ý thức hệ và thị hiếu tiếp nhận. Dù thị trường nội địa đạt quy mô hơn 60 tỷ Nhân dân tệ ở thời kỳ đỉnh cao, các phim mang đậm tính tuyên truyền thường khó thâm nhập sâu vào thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
Việt Nam có thể học hỏi điều gì từ mô hình hợp tác làm phim quốc tế của Trung Quốc?
Việt Nam có thể tận dụng cảnh quan thiên nhiên độc đáo và chính sách ưu đãi để hợp tác với các đạo diễn quốc tế như cách Trung Quốc thực hiện với The Chinese Widow (2017), giúp mở rộng độ phủ sóng toàn cầu lên gấp 2 đến 3 lần.
Đề tài văn hóa bản địa nào dễ tiếp cận với các liên hoan phim quốc tế?
Các tác phẩm khắc họa sâu sắc đời sống tinh thần và vẻ đẹp vùng miền như De Lan và Soul on a String (2016) thường được đánh giá cao nhờ chuyển tải triết lý nhân văn và tinh thần hòa hợp dân tộc mà không tạo cảm giác giáo điều.
Kết luận
Năm đúc kết cốt lõi từ công trình nghiên cứu:
- Ngoại giao văn hóa qua điện ảnh là trụ cột sức mạnh mềm chiến lược giúp Trung Quốc định vị thương hiệu quốc gia từ năm 2016 đến nay.
- Liên hoan phim quốc tế Thượng Hải đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh đất nước hiệu quả.
- Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thương mại và đề tài bản sắc dân tộc mang lại doanh thu trên 100 triệu Nhân dân tệ và sự đón nhận của công chúng.
- Hợp tác sản xuất quốc tế là đòn bẩy quan trọng để nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật và mở rộng thị trường phát hành.
- Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện thể chế và triển khai chiến lược điện ảnh đối ngoại bài bản cho giai đoạn 2025 - 2030.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trung Hiếu đã đóng góp những luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác đối ngoại văn hóa nước nhà. Để đưa văn hóa Việt Nam vươn tầm thế giới, các cơ quan quản lý và các nhà làm phim cần phối hợp hành động ngay từ hôm nay. Độc giả quan tâm có thể tìm đọc toàn văn luận văn tại thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền để nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này.