Chương 1 được thực hiện nhằm làm rõ tính tất yếu của việc thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa hai nước và là xu thế phát triển tất yếu trong thời đại hội nhập quốc tế như hiện nay. Chương 2: Thực trạng quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản trên các lĩnh vực từ năm 2014 đến nay. Chương 2 tập trung phân tích mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản từ năm 2014 đến năm 2022 trên các lĩnh vực: chính trị – đối ngoại, an ninh – quốc phòng, kinh tế và những lĩnh vực khác, từ đó đưa ra những nhận xét về mối quan hệ song phương này. Chương 3: Triển vọng quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản đến năm 2032 và một số khuyến nghị.
Trên cơ sở phân tích lý giải trong chương 2, trong chương 3, người viết đưa ra nhận xét và rút ra những thuận lợi – khó khăn và hạn chế trong quan hệ song phương Việt Nam – Nhật Bản. Qua đó, dự báo về triển vọng quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa Việt Nam – Nhật Bản đến năm 2032 và đề xuất một số khuyến nghị đối với Việt Nam nhằm góp phần đưa mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước ngày càng phát triển trong thời gian tới. 11 Chƣơng 1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƢỢC SÂU RỘNG VIỆT NAM – NHẬT BẢN TỪ NĂM 2014 ĐẾN NAY 1. Quan điểm về quan hệ đối tác chiến lƣợc sâu rộng Trước hết, khái niệm “quan hệ đối tác” (Partnership) trong quan hệ quốc tế được định nghĩa là mối quan hệ cộng tác, hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn.
Quan hệ đối tác bao gồm hai hoặc nhiều bên cùng hành động để tăng cường hợp tác, hướng đến những mục tiêu chung thông qua xây dựng những kênh cơ bản, cơ chế giải quyết bất đồng, tranh chấp; triển khai các biện pháp thúc đẩy quan hệ; thỏa thuận phương hướng đánh giá mức độ tiến bộ; chia sẻ thành tựu hợp tác. Mối quan hệ đối tác thể hiện sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại. Các quan hệ đối tác khá linh hoạt về hình thức, tùy thuộc mức độ phát triển quan hệ giữa các bên. [17] “Chiến lược” (Strategic) có thể hiểu với nghĩa rộng là tính quan trọng toàn cục, then chốt và có giá trị lâu dài về mặt thời gian.
Khác với “chiến thuật” – dùng để chỉ sự chi tiết, “chiến lược” mang tính tổng thể, bao hàm hơn trong nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Khái niệm này được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực an ninh – quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh – quân sự. [28] Theo Trần Quang Minh và Phạm Quý Long, “đối tác chiến lược” được hiểu là một đối tác để một quốc gia/tổ chức có thể xây dựng quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực có tính chiến lược mà đối tác có thế mạnh còn quốc gia/tổ chức có nhu cầu hợp tác. Đối tác chiến lược phải là đối tác chính trong một vài lĩnh vực, có quan hệ hợp tác lâu dài, ổn định, bền vững và tin tưởng lẫn 12 nhau.
Xây dựng đối tác chiến lược nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của cả hai bên. Ngoài ra, đã xuất hiện xu hướng xây dựng quan hệ đối tác “bất cân xứng” như giữa một quốc gia và một tổ chức quốc tế, như giữa Trung Quốc và ASEAN (2003) và giữa Trung Quốc với EU (2003); giữa khối liên minh quân sự với tổ chức quốc tế hoặc quốc gia như giữa NATO với EU (2010), giữa NATO và Nga (2010), v.v; giữa tổ chức quốc tế với khu vực hoặc tổ chức quốc tế khác như giữa EU và Châu Phi (2007); giữa EU với khu vực Mỹ Latinh và Caribe năm 1996; hoặc thậm chí giữa các lục địa như Đối tác Chiến lược Châu Á và Châu Phi Mới (NAASP). Tiếp theo là Nga với hơn 30 đối tác chiến lược và tương đương; Hoa Kỳ với 24 đối tác chiến lược và tương đương, trong đó có chín đối tác chiến lược, ba đối tác toàn diện, hai quan hệ đặc biệt với Vương quốc Anh và Israel, hai đồng minh ngoài NATO và tám đồng minh khác; Pháp với 13 đối tác chiến lược; Vương quốc Anh và Ấn Độ với 12 đồng minh và quan hệ đối tác chiến lược; EU và Mexico với 10 đối tác chiến lược mỗi bên; Đức và Indonesia với 9 đối tác chiến lược mỗi bên; Ba Lan với sáu đối tác chiến lược, v. 1 1 Các cách tính toán khác nhau mang lại các số liệu khác nhau.
Dữ liệu được trích dẫn trong đoạn này đã được tính toán trước năm 2013 và được tác giả tổng hợp từ các trang web của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Anh, Nga, Pháp, Ấn Độ, Đức, Israel, Indonesia, Mexico và Ba Lan, và một số tài liệu tham khảo khác. 13 Về mức độ cam kết, quan hệ đối tác chiến lược thể hiện cam kết ở mức cao hơn quan hệ song phương thông thường nhưng chưa đến mức hình thành một liên minh quân sự. Quan hệ đối tác chiến lược được chính thức hóa thông qua việc ký kết văn bản tuyên bố, thỏa thuận và biên bản ghi nhớ trong đó nêu rõ các mục tiêu chính sách rõ ràng và nỗ lực xây dựng, làm sâu sắc thêm các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực. Trên các lĩnh vực, về hợp tác chính trị, trong quan hệ đối tác chiến lược, hai bên tạo ra các liên kết thể chế chính thức ở các cấp chính phủ và phi chính phủ, tạo ra nhiều kênh tương tác ở các cấp độ ngoại giao (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân).
Ngoài ra, giữa hai bên duy trì tổ chức luân phiên các cuộc gặp, viếng thăm cấp cao tại các thành phố thủ đô/trụ sở chính nhằm cùng thảo luận và tìm kiếm những lợi ích hoặc mối quan tâm chung, thường là cùng nhau. Về an ninh – quân sự, để giải quyết một số vấn đề cụ thể, các lực lượng đặc nhiệm có thể được thành lập; các cuộc tập trận quân sự chung thường được tổ chức. Về kinh tế, hai bên nỗ lực thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ. Về văn hóa, hai bên chú trọng nâng cao nhận thức sâu sắc hơn về văn hóa của nhau thông qua giao lưu thanh niên và tổ chức các sự kiện văn hóa.
Theo Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Tất Giáp, để đi đến quan hệ đối tác chiến lược, hai bên cần trải qua các giai đoạn sau: Giai đoạn 1: Hai quốc gia (hoặc một quốc gia và một tổ chức) nhất trí xây dựng quan hệ theo phương châm “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”. Giai đoạn 2: Hai bên ký Tuyên bố chung “Vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững”. Giai đoạn 3: Hai bên ký Tuyên bố chung “Hướng tới đối tác chiến lược”. Trong đó cần nêu rõ những hướng hợp tác của hai bên.
Giai đoạn 4: Xây dựng và thực hiện “Chương trình hợp tác hướng tới 14 quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước”. Trong giai đoạn này, ký và thực hiện một số hiệp định song phương về các lĩnh vực ưu tiên hợp tác. Giai đoạn 5: Ký tuyên bố chung về “Quan hệ đối tác chiến lược”. Xác định phương hướng chiến lược phát triển quan hệ giữa hai bên.
Sau khi đã trở thành đối tác chiến lược, hai bên cần phải xác định nội dung và lộ trình xây dựng đối tác chiến lược để mang lại hiệu quả hợp tác cao nhất cho cả hai bên. Những lĩnh vực hợp tác chiến lược cần phải được đẩy mạnh hơn nữa về chiều sâu, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của hai bên vì lợi ích hai bên và vì sự phát triển và phồn vinh cho khu vực và thế giới. Tóm lại, có thể định nghĩa “quan hệ đối tác chiến lược” (strategic partnership) là mối quan hệ hợp tác giữa hai chủ thể quan hệ quốc tế, trong đó mỗi bên đều có thế mạnh đáp ứng nhu cầu hợp tác và lợi ích bên còn lại. Quan hệ hợp tác chiến lược được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau và bình đẳng.
Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng không chỉ với quan hệ song phương mà còn mang tính ổn định và lâu dài. Trong đó, cả hai bên đều cố gắng phát triển mối quan hệ đôi bên cùng có lợi hướng đến lợi ích chung. Chủ trương thiết lập quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản đã được đặt ra ngay từ những năm đầu thế kỷ XXI, trải qua 5 tiến trình, bắt đầu từ việc “xây dựng đối tác tin cậy” đến “vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững”, tiếp theo là “hướng tới đối tác chiến lược”, và cuối cùng là tuyên bố “xây dựng đối tác chiến lược”. Những nhân tố khách quan tác động tới quan hệ đối tác chiến lƣợc sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản từ năm 2014 – nay Quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức đến nay nói chung và quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2014 – nay hình thành, phát triển và vận động trong sự 15 tương quan kết hợp giữa nhân tố khách quan và chủ quan.
Trong đó, nhân tố khách quan bao gồm tình hình thế giới và khu vực, yếu tố chủ quan bao gồm lịch sử quan hệ Việt Nam – Nhật Bản và vai trò của hai bên trong chính sách đối ngoại của nhau. Bối cảnh thế giới Từ năm 2014 đến nay, có thể khái quát tình hình thế giới với những đặc điểm sau: Thứ nhất, “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn” [14, tr. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nền hòa bình thế giới nói chung và môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế bị đe dọa bởi hàng loạt vấn đề như tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ và tài nguyên, xung đột tôn giáo, sắc tộc, hoạt động khủng bố, chủ nghĩa dân túy, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng,… ngày một diễn ra gay gắt.