Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ỘNG ẾN QUAN HỆ ỐI TÁC HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM - HÀN QUỐC 1. Quan điểm tiếp cận về quan hệ ối tác hợp tác chiến lược Trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, dưới góc nhìn chính trị học, quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh, người ta thường phân định ra thành bốn cấp độ từ thấp đến cao lần lượt là: Đối tác (Partnership) - Đối tác toàn diện (Comprehensive Partnership) - Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) - Đối tác hợp tác chiến lược (Cooperation Strategic Partnership) và mức cao nhất là Đối tác chiến lược toàn diện (Comprehensively Strategic Partnership). Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung.
Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác” [39]. Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung. Hợp tác (Cooperation): theo các học giả khoa học chính trị Mỹ Robert Axelrod và Robert O.
Keohane, sự hợp tác diễn ra khi các chủ thể điều chỉnh hành vi của họ trước các mong muốn thực tế hoặc dự đoán về mong muốn của những người khác. Sự hợp tác không đồng nghĩa với sự hài hòa. Sự hài hòa đòi hỏi sự đồng nhất hoàn toàn của các lợi ích. Sự hợp tác diễn ra trong bối cảnh chứa đựng nhiều mâu thuẫn đối ngược và bổ sung nhau [18; tr.
Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để 11 chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan đến các lĩnh vực an ninh - quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh - quân sự. Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh - quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win - win” cùng có lợi).
Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự. Đối tác chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”. Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm chung về quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược để thể hiện đầy đủ nội hàm, mục đích, ý nghĩa của nó.
Từ nhận thức và trong quá trình nghiên cứu, có thể thấy, đây là một khái niệm tương đối mới mẻ với nội hàm chứa đựng nhiều vấn đề cần nhận thức chuẩn xác. Tuy vậy, trong khuôn khổ một luận văn Chính trị học, chúng tôi mạnh dạn trình bày quan điểm của mình về vấn đề này như sau: Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược là một hình thức quan hệ quốc tế, phản ánh nguyện vọng của các chủ thể khi tham gia vào khuôn khổ quan hệ này. Nó thể hiện cam kết cao hơn mối quan hệ song phương thông thường nhưng chưa đến mức hình thành một liên minh quân sự. Đồng thời là thước đo mức độ ràng buộc, đan xen lợi ích giữa các chủ thể quan hệ quốc tế.
Nhân tố khách quan 1. Bối cảnh thế giới Trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới diễn ra những biến đổi khó lường, hết sức to lớn trên các mặt của đời sống quốc tế, là nhân tố khách quan phức tạp nhất tác động đến quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Thứ nhất, cục diện thế giới và cấu trúc quyền lực quốc tế có nhiều thay đổi, tương quan lực lượng thế giới nghiêng về hướng có lợi cho chủ nghĩa tư bản, bất lợi cho chủ nghĩa xã hội, cách mạng thế giới và các lực lượng tiến bộ. Các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây, đứng đầu là Mỹ, chi phối mạnh mẽ đời sống quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, quá trình hình thành trật tự thế giới mới lại chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định khi nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch nhau: Mỹ chủ trương một thế giới đơn cực, trong khi đó Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước trong Liên minh châu Âu (EU) lại muốn thiết lập thế giới đa cực. Đảng ta nhận định “Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; các nước lớn vẫn hợp tác, thỏa hiệp, nhưng đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau gay gắt hơn” [8; tr. Chính sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực đã tạo ra những “khoảng trống quyền lực” ở một số khu vực, trong đó có Đông Nam Á, nhất là ở bán đảo Đông Dương. Chính trong trật tự thế giới mới đang định hình này, các nước lớn đều có cơ hội công khai tham vọng mở rộng ảnh hưởng nhằm lấp đầy những “khoảng trống quyền lực” đó.
Các nước đều nhận thấy rằng, chế độ chính trị, hệ tư tưởng, chạy đua vũ trang, sức mạnh quân sự - quốc phòng không còn là phương thức thích hợp để tập hợp lực lượng, mở rộng ảnh hưởng và phô trương sức mạnh quốc gia. Sức mạnh quốc gia lúc này chính là sức mạnh tổng hợp, trong đó bao hàm cả sức mạnh mềm; quan hệ giữa các nước với nhau dựa trên lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, việc mở rộng quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnh vực với các quốc gia khác trên thế giới nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc là 13 tối cần thiết, đặc biệt trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa, hòa bình, hợp tác và phát triển như hiện nay. Đây cũng chính là nhân tố thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc.
Thứ hai, đó là sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn sau khi xác định vị thế của quốc gia mình trên trường quốc tế. Để đối phó với khuynh hướng hình thành cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ nét, Mỹ luôn thể hiện không giấu giếm tham vọng bá quyền của mình, với mục đích thiết lập “trật tự mới”, thực chất là thế giới đơn cực do Mỹ lãnh đạo như nhận định của Brzezinski: “Giữ vững quyền đứng đầu thế giới của Mỹ là chính yếu đối với phúc lợi và an ninh của Mỹ và tương lai của tự do, dân chủ, kinh tế mở cửa và trật tự quốc tế trên thế giới hiện nay” [2; tr. Sự hiện diện của Mỹ tại các khu vực trọng yếu trên thế giới hiện nay đã chứng minh cho tham vọng này. Mặt khác, nhân tố Trung Quốc đang trỗi dậy trở thành đối trọng của các quốc gia trên thế giới.
Sự can thiệp và hiện diện của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông và nhiều nơi khác trên thế giới thật sự đã tạo nên những phức tạp nhất định. Các quốc gia khác như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia… dần thể hiện vai trò và vị thế của mình trên trường quốc tế, trong nhiều vấn đề chính trị phức tạp đang diễn ra như hiện nay. Chính sự điều chỉnh chính sách này ít nhiều gây nên những mối lo ngại cũng như tạo ra những thách thức mới cho công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Về điều này, Đảng ta nhận định: “Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng.
Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới” [8; tr. Để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, Việt Nam đã thực thi một chính sách đối ngoại đổi mới theo hướng đa phương, đa diện, tăng cường quan hệ hợp tác với các nước, nhất là các nước ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Hàn Quốc. 14 Thứ ba, xu thế hòa dịu, hòa hoãn, hợp tác và phát triển chiếm ưu thế trong quan hệ quốc tế, là cơ hội cho mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ. Ở các cấp độ khác nhau, tiến trình cải thiện quan hệ giữa các nước, các đối thủ cũ vốn từng đứng trên hai trận tuyến đối lập nhau được thúc đẩy, các mối quan hệ, hợp tác mới được hình thành chủ yếu theo xu hướng vì lợi ích quốc gia - dân tộc và mục tiêu phát triển.
Các nước đều có sự đổi mới tư duy về lợi ích dân tộc, quan hệ quốc tế, an ninh và phát triển của nước mình, về nhận thức vai trò và yếu tố kinh tế trong việc xác lập vị thế của quốc gia - dân tộc. Vì vậy, các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế, coi tiềm lực và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có vai trò quan trọng trong việc giữ vững nền độc lập dân tộc và ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế của mỗi nước trong cộng đồng quốc tế. Thứ tư, cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình toàn cầu hóa có những bước phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt đời sống xã hội của các quốc gia, đặc biệt là vấn đề bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia với cả thời cơ lẫn nguy cơ, đang đòi hỏi các nước, trong đó có cả Việt Nam và Hàn Quốc phải có sự điều chỉnh chính sách đối ngoại cho phù hợp.