Chương 1 CƠ SƠ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - ẤN ĐỘ TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO 1. Một số khái niệm liên quan Đối tác chiến lược, đối tác toàn diện là cụm từ chỉ quan hệ ngoại giao giữa hai nước với nhau. Quan hệ từ đối tác song phương, đối tác khu vực tới đối tác toàn diện, đối tác chiến lược. Đối tác: trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ cộng tác, hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn.
Đối tác bao gồm hai hoặc nhiều bên cùng hành động nhằm: Tăng cường hợp tác, hướng đến những mục tiêu chung; xây dựng những kênh cơ bản, cơ chế giải quyết bất đồng, tranh chấp; triển khai các biện pháp thúc đẩy quan hệ; thỏa thuận phương hướng đánh giá mức độ tiến bộ; chia sẻ thành tựu hợp tác. Mối quan hệ đối tác thể hiện sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại. Các quan hệ đối tác khá linh hoạt về hình thức, tùy thuộc mức độ phát triển quan hệ giữa các bên. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tham gia vào quá trình hội nhập, liên kết, vì chính sự phát triển của đất nước mình.
Do đó, đối tác có thể hiểu là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác, hợp tác, liên kết, phối hợp với nhau giữa hai hay nhiều bên để cùng hành động, hỗ trợ lẫn nhau thực hiện mục tiêu chung hay tương đồng của các bên. Tùy từng mức độ quan hệ mà chia thành các cấp độ khác nhau, như đối tác song phương, đối tác khu vực, đối tác quan hệ đặc biệt, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện… Chiến lược: Không phải là một lĩnh vực mà là một tầm vóc quan trọng cấp cao. Nó thường đòi hỏi có thêm cơ chế và chính sách/kế hoạch để thực hiện. Hai bên có thể hợp tác cấp thấp và không cần thiết lập cơ chế 11 (institution) để hợp tác, mà chỉ cần qua các chính quyền địa phương hay sở, cục trung ương.
Đối tác chiến lược: Là mối quan hệ mang tính chất toàn cục, then chốt và có giá trị lâu dài với thời gian. Mối quan hệ gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi với nhau có thể cả lĩnh vực an ninh quân sự. Nếu hợp tác ở tầm vóc chiến lược thì thường phải có phần cứng (institution) và phần mềm (policy). Quan hệ đối tác chiến lược: Trong quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, người ta thường phân định ra thành 4 cấp độ từ thấp đến cao: Đối tác (partnership) - đối tác toàn diện (comprehensive partnership) - đối tác chiến lược (strategic partnership) và mức cao nhất là đối tác chiến lược toàn diện (comprehensively strategic partnership).
Quan hệ đối tác chiến lược là thuật ngữ chỉ mối quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia mang tính chất toàn cục, then chốt và có giá trị lâu dài với thời gian. Mối quan hệ này gắn liền với nhiều lĩnh vực phát triển cùng có lợi có thể bao gồm cả lĩnh vực an ninh quân sự. Về nguyên tắc, quan hệ đối tác chiến lược phải có cơ chế và chính sách để thực hiện, các hoạt động hợp tác không nhất thiết phải ở cấp cao, mà có thể diễn ra ở từng ngành hoặc địa phương chỉ cần thông qua hệ thống chính quyền hoặc sở, ban, ngành. Đối tác chiến lược toàn diện: hay còn gọi là đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, tức là hai hay nhiều bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực mà các bên cùng có lợi, đồng thời hai bên còn xây dựng sự tin cậy lẫn nhau ở cấp chiến lược.
Đến năm 2020, Việt Nam có quan hệ với 3 đối tác chiến lược toàn diện là: Trung Quốc (2008), Nga (2012) và Ấn Độ (2016); 17 đối tác chiến lược (bao gồm cả 3 nước là đối tác chiến lược toàn diện) trong đó có 5 đối tác là các quốc 12 gia chủ chốt trong ASEAN, gồm: Nga (2001), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức và Italy (2011), Thái Lan, Indonesia, Singapore và Pháp (2013), Malaysia và Philippines (2015), Úc (2018), New Zealand (2020); 13 đối tác toàn diện là: Nam Phi (2004), Chile, Brazil, Venezuela (2007), Argentina (2010), Ukraine (2011), Hoa Kỳ, Đan Mạch (2013); Myanmar, Canada (2017), Hungary (2018), Brunei, Hà Lan (2019). Đối với các nước trong khối ASEAN, hiện nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao cao cấp với toàn bộ 9/9 nước thành viên (không tính Việt Nam) với 5 nước là đối tác chiến lược và 2 nước là đối tác toàn diện; 2 nước: Campuchia và Lào là quan hệ đặc biệt. Cơ sở hình thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam- Ấn Độ 1. Sự tương đồng giữa Việt Nam và Ấn Độ * Tương đồng về địa lý: Việt Nam và Ấn Độ là hai nước cùng nằm ở khu vực châu Á, có đường bộ nối liền với Myanmar và đường biển kéo dài đến Indonesia và Thái Lan.
Hai nước có đặc điểm chung là đường bờ biển kéo dài, chiều dài lãnh thổ giáp biển và có bán đảo dọc theo đường biển chính nối liền Tây Á và Đông Á. Đây được xem là một lợi thế quan trọng của Việt Nam và Ấn Độ. Ấn Độ là quốc gia châu Á thuộc khu vực Nam Á, phần lớn Ấn Độ nằm ở bán đảo Nam Á vươn ra Ấn Độ Dương, là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích. Với vị trí địa chính trị quan trọng ở châu Á nói riêng, thế giới nói chung, Ấn Độ được coi là trục trung chuyển giữa phương Tây và phương Đông.
Với quy mô lãnh thổ, vị trí địa lý như vậy, Ấn Độ có vai trò địa - chính trị quan trọng không chỉ đối với lục địa Á châu mà còn đối với cả thế giới. Việt Nam là quốc gia ở châu Á, khu vực Đông Nam Á, có vị trí địa chính trị và địa kinh tế quan trọng. Nằm trong khu vực Biển Đông, Việt Nam 13 được coi là một quốc gia biển. Hầu hết các tuyến hàng hải đều đi qua vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Vùng biển và ven biển của Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực. Ở Việt Nam cũng có sự tương đồng với địa lý Ấn Độ, Việt Nam có địa hình đa dạng với nhiều đồi núi, đồng bằng màu mỡ và được bồi đắp bởi hệ thống sông ngòi, nhất là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên nền nông nghiệp lúa nước. * Tương đồng về văn hóa: Từ sự tương đồng về vị trí địa lý, Ấn Độ đã mở rộng ảnh hưởng của mình đến các nước Đông Dương bằng con đường truyền bá văn hóa. Ấn Độ là cường quốc số một ở Nam Á, là nước có nền văn hóa phát triển lâu đời và đã trở thành một trong 4 cái nôi văn minh của nhân loại.
Đây cũng là nơi khởi nguồn của 4 tôn giáo lớn trên thế giới bao gồm: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo. Ở Ấn Độ với nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó Ấn Độ giáo là tôn giáo chính, đạo Phật và đạo Hindu chiếm số đông. Việt Nam là đất nước trải dài bên bờ Biển Đông. Do điều kiện tự nhiên và lịch sử hình thành quốc gia - dân tộc cùng điều kiện kinh tế - xã hội, Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biển.
Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc. Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Cùng với sự tương đồng, gần gũi về vị trí địa lý, ngay từ những năm đầu thế kỷ, Việt Nam và Ấn Độ đã có mối giao lưu về văn hóa và thương mại. Thời đó, các thương nhân và giáo sĩ từ Ấn Độ đến truyền giáo, giao thương và định cư ở Vương quốc Chămpa (nay là miền Trung Việt Nam).
Đạo Phật và đạo Hindu đã có những đóng góp không nhỏ trong việc giao lưu văn hóa giữa hai nước. Văn hóa Chămpa mang đậm dấu ấn Hindu giáo. Tiếp đó, đạo Phật 14 từ Ấn Độ được du nhập vào miền Bắc Việt Nam và sau đó trở thành một phần của văn hóa Việt Nam ngày nay. Sự phát triển của Phật giáo tại Việt Nam là biểu tượng của giao thoa văn hóa, tôn giáo giữa hai nước.
Chính vì vậy, Việt Nam, Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng về văn hóa. Hai nước cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Ấn Độ như tôn giáo, kiến trúc…Văn hóa Ấn Độ đã trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm văn hóa Việt Nam. Quá trình giao thoa văn hóa cũng chính là nền tảng của mối quan hệ truyền thống và lâu đời giữa hai nước Việt Nam - Ấn Độ, hình thành nên cơ sở vững chắc, ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu. * Quá trình phát triển mối quan hệ Việt Nam và Ấn Độ: Cùng những tương đồng về địa lý và văn hóa, theo chiều dài lịch sử, Việt Nam và Ấn Độ vốn có quan hệ lịch sử từ hơn hai thế kỷ nay.
Mối quan hệ này tiếp tục phát triển theo từng thời kỳ lịch sử. Trong nửa đầu thế kỷ XX, quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ xích lại gần nhau hơn vì có sự tương đồng về lịch sử. Hai dân tộc đều trải qua ách nô lệ của thực dân phương Tây, cả hai nước cùng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ để giành độc lập dân tộc. Việt Nam giành độc lập từ thực dân Pháp vào năm 1945 và nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945.
Ấn Độ giành được độc lập từ thực dân Anh vào năm 1947, sau đó là sự ra đời của nước Cộng hòa Ấn Độ ngày 26-1-1950. Sự tương đồng trong tư tưởng ngoại giao trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam - Ấn Độ được lãnh tụ Hồ Chí Minh, M.Nehru đặt nền tảng và được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp, phát triển.