chương 1 trình bày các yếu tố cơ bản tác động đến quan hệ Trung Quốc - Myanmar giai đoạn 2001-2015, cho thấy quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này bị tác động bởi nhiều yếu tố trong đó tình hình nội tại của mỗi nước và quan hệ truyền thống giữa hai nước là những yếu tố cơ bản mang tính quyết định. Bên cạnh đó, tình hình thế giới, khu vực và sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn - đặc biệt là sự hiện diện của Mỹ tại Myanmar - cũng là những yếu tố có những tác động quan trọng. Chương 2: Thực trạng quan hệ Trung Quốc - Myanmar giai đoạn 2001-2015 gồm 4 phần: 2. Chính trị; 2.
Quốc phòng, an ninh; 2. Quan hệ Trung Quốc - Myanmar giai đoạn 2001-2015 có nhiều biến động song xét một cách tổng thể, hai nước vẫn có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, cần có nhau trong đó Trung Quốc giữ vai trò ảnh hưởng, chi phối. Có thể chia quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này thành hai thời kỳ: Thời kỳ Chính quyền quân sự cầm quyền ở Myanmar (2001-2010), Myanmar bị bao vây cấm vận, phụ thuộc lớn vào Trung Quốc và thời kỳ chính quyền dân sự lên cầm quyền ở Myanmar (2011- 2015), Myanmar tiến hành cải cách, mở cửa, thực hiện chính sách giảm dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Chương 3: Một số nhận xét và khuyến nghị gồm 3 phần: 3.
Triển vọng quan hệ Trung Quốc - Myanmar đến năm 2020; 3. Tác động của quan hệ Trung Quốc - Myanmar đến khu vực Đông Nam Á; 3. Một số khuyến nghị đối với Việt Nam. Quan hệ Trung Quốc - Myanmar đến năm 2020 tiếp tục bị chi phối bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài, trong đó chính sách đối với Trung Quốc của Chính quyền mới Myanmar do đảng NLD lãnh đạo đóng vai trò quan trọng.
Mặc dù có nhiều sự thay đổi và thách thức, nhưng có thể thấy, quan hệ Trung Quốc - Myanmar chưa thể đảo ngược. Quan hệ Trung Quốc - Myanmar tác động trực tiếp đến hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực Đông Nam Á cũng như tiến trình xây dựng Cộng đồng chung ASEAN, cả tích cực lẫn tiêu cực. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, Myanmar trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG QUỐC -MYANMAR GIAI ĐOẠN 2001-2015 Các yếu tố cơ bản tác động đến quan hệ Trung Quốc - Myanmar giai đoạn 2001-2015 gồm: Tình hình thế giới, khu vực; tình hình nội tại của Trung Quốc, Myanmar; lịch sử quan hệ giữa hai nước trước năm 2001 và sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn tại Myanmar.
Trong đó tình hình nội tại của mỗi nước, đặc biệt là những biến đổi tại Myanmar đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Tình hình thế giới, khu vực 1. Tình hình thế giới Trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cục diện đa cực với sự chi phối của các nước lớn ngày càng thể hiện rõ thay thế cho cục diện hai cực trước đây.
Quan hệ quốc gia, dân tộc và giữa các bộ phận, các nhóm dân cư. có nhiều điểm mới. Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, bên cạnh đó vẫn tiếp tục diễn ra xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão đã và đang làm thay đổi tư duy và nhận thức trong đời sống sinh hoạt quốc tế.
Thế giới là một thể thống nhất và đa dạng, tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, nhu cầu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trở nên cấp bách. Xu hướng lành mạnh hóa, dân chủ hóa trong sinh hoạt quốc tế ngày càng được rõ nét. Những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội mang tính toàn cầu như: nguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt, vấn đề dân số và môi trường sinh thái… đang là những vấn đề cấp bách và nóng bỏng đe dọa sự tồn tại của cộng đồng thế giới và nền văn minh nhân loại. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trên tinh thần thực sự nhân đạo vì sự sống còn của con người.
Sự xích lại gần nhau, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia dân tộc bắt nguồn chính từ nhu cầu khách quan này. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tác động sâu sắc, toàn diện đến đời 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sống quan hệ quốc tế, đến chính sách quốc tế của các quốc gia dân tộc, chi phối mạnh mẽ đến trật tự mới của từng khu vực và thế giới. Sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố, coi chống khủng bố là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu. Mỹ tiến hành cuộc chiến chống khủng bố trên quy mô toàn cầu và bị sa lầy trong các cuộc chiến ở Afghnistan và Iraq, tạo ra một “khoảng trống quyền lực” tại khu vực châu Á, phần nào nơi lỏng, giảm sự quan tâm ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực này.
Các cường quốc như Nhật Bản vẫn tiếp tục suy thoái, EU lâm vào khủng hoảng tài chính toàn cầu ở cuối thập niên đầu thế kỷ XXI. Nước Nga sau một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng ở thập niên 90 và sau đó phục hồi chậm chạp. Ấn Độ đang bước vào thời kỳ phát triển khá nhanh nhưng quy mô và tốc độ còn thấp, chưa thể trở thành một cường quốc có vai trò lớn trong khu vực và quốc tế. Trong khi đó, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX trở đi, nhất là bước vào thập niên đầu của thế kỷ XXI, sau khi gia nhập WTO năm 2001, công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc thu được những thành tựu to lớn, có tính đột phá mới đã làm thay đổi môi trường địa - chính trị thế giới, trước hết tại châu Á.
Năm 2010, Trung Quốc đã chính thức vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Tiềm lực quân sự - quốc phòng của Trung Quốc cũng tăng rất mạnh. Những biến đổi mới trên làm dịch chuyển khá nhanh chóng về cán cân ảnh hưởng và trật tự quyền lực ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, làm cho Trung Quốc trở thành vai diễn chính, chỉ sau Mỹ trong bàn cờ địa chính trị - kinh tế thế giới. Trung Quốc ngày càng thể hiện rõ tham vọng trở thành siêu cường của mình, không ngừng gia tăng ảnh hưởng với các quốc gia trong khu vực, nỗ lực xây dựng cho mình một vành đai an ninh xung quanh ổn định và nằm trong tầm ảnh hưởng của Trung Quốc.
Chính điều này đã đe dọa đến vị thế và lợi ích truyền thống của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương. Nhận thức rõ nguy cơ này, năm 2011, Tổng thống Mỹ B.Obama đã chính thức tuyên bố chiến lược xoay trục, chuyển trọng tâm từ châu Âu sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thể hiện sự quay trở lại của Mỹ ở khu vực này và nhằm khẳng định vị trí số một của mình. Châu Á - mà đặc biệt là Đông Nam Á trở 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành khu vực cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó Myanmar là một trọng điểm. Tình hình khu vực Đông Nam Á là khu vực địa chiến lược, từ lâu đã trở thành đối tượng tiếp cận và tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn.
Trên thực tế, nhân tố các nước lớn, ít nhất trong lịch sử cận đại và hiện đại đã chi phối hầu hết các xu hướng phát triển của Đông Nam Á. Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, khu vực Đông Nam Á bước vào thời kỳ tương đối bất ổn bởi tác động của khủng hoảng kinh tế - tài chính, gia tăng xung đột sắc tộc và chủ nghĩa ly khai, nổi lên vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhất là chủ quyền biển đảo và chạy đua vũ trang. Hơn nữa, các thách thức mới trên diễn ra đồng thời với sự gia tăng sức ép của toàn cầu hóa, khu vực hóa và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trước hết là giữa Mỹ và Trung Quốc1. Cùng với sự gia tăng của toàn cầu hóa và khu vực hóa, thế giới nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng chứng kiến thêm nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính với quy mô ngày càng lớn và hệ quả của chúng ngày càng trầm trọng.
Nếu như cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1998 bắt đầu nổ ra tại Thái Lan làm suy yếu nhiều nước ASEAN, làm tăng vai trò của Trung Quốc ở khu vực này thì cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nổ ra từ nước Mỹ lại giáng đòn mạnh vào uy tín, sức mạnh vượt trội kinh tế của Mỹ, làm suy giảm tương đối vị thế của nước này trong cán cân quyền lực thế giới, tạo thêm ảnh hưởng của Trung Quốc ra toàn thế giới, nhất là ở Đông Nam Á. Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh đang lên nhanh của mình để tiến hành điều chỉnh và giám sát mạnh mẽ hơn các định chế tài chính thế giới như WB, IMF và đưa ra các luật chơi mới của mình, trước hết là ở khu vực Đông Nam Á, nơi mà Trung Quốc đã thiết lập được các cơ chế hợp tác kinh tế song phương và đa phương với ASEAN và các nước thành viên. Điều này một mặt tạo cho Trung Quốc có tiếng nói lớn hơn, quyền lực hơn trong các cơ chế 1 Trần Khánh, Chủ biên (2014), “Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ- Trung ở Đông Nam Á ba thập niên đầu sau Chiến tranh Lạnh”, NXB Thế giới, Tr67. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp tác đa phương do ASEAN khởi xướng, làm cho nhiều nước trong khu vực ngày càng gắn bó với Trung Quốc, mặt khác cũng tạo ra những mối lo ngại về an ninh kinh tế, nhất là nguy cơ trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và cung cấp nguyên liệu thô cho Trung Quốc.
Chính điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến ASEAN tăng cường liên kết nội khối, quyết tâm hiện thực hóa cộng đồng ASEAN vào năm 2015 nhằm để tạo ra một thị trường thống nhất, có sức đề kháng và cạnh tranh hơn trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.