Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ TRONG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI 1. Bối cảnh quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI và ảnh hưởng của nó tới quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ Bối cảnh quốc tế là nhân tố khách quan phức tạp và biến đổi khó lường nhất, tác động trực tiếp đến chính sách đối ngoại của các nước nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung. Những biến đổi của quan hệ quốc tế cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI 10 ảnh hưởng đến quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ được nhận định ở các lĩnh vực sau: Về cục diện thế giới: Chiến tranh lạnh chấm dứt, trật tự hai cực Ianta sụp đổ, Mỹ là cực duy nhất còn lại. Thế giới bước vào thời kỳ quá độ hình thành một trật tự thế giới mới, quan hệ quốc tế đang trong quá trình tái cơ cấu, vì vậy, các quốc gia đều thực hiện điều chỉnh chiến lược để nhằm giành cho mình một vị trí tối ưu trong trật tự thế giới và quan hệ quốc tế mới.
Cục diện “lưỡng siêu đa cường” dần dần xuất hiện. Với xu thế phát triển của thế giới từ cuối thế kỷ XX, các quốc gia - dân tộc vừa đứng trước những cơ hội phát triển thuận lợi, vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt. Mỹ vẫn là siêu cường số 1. Tuy nhiên, một số cường quốc khác đang nổi lên thách thức Mỹ.
Các nước XHCN còn lại đã đứng vững, phát triển mạnh hơn. Các cường quốc đã có sự điều chỉnh chiến lược khu vực và toàn cầu, vừa hợp tác vừa cạnh tranh, cố gắng xác lập vùng ảnh hưởng của mình. Hội nhập và phát triển là xu thế chủ đạo, tác động trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược đối nội, đối ngoại của mỗi quốc gia. Nguy cơ mất ổn định, xung đột vẫn tiềm ẩn và hiện hữu ở nhiều nước, nhiều khu vực.
Trong việc xắp xếp và cân bằng quyền lực toàn cầu, cơ chế hợp tác và đối thoại đa phương là yếu tố quan trọng đảm bảo cho hòa bình và ổn định trên thế giới, trong đó có vai trò quan trọng của Liên hợp quốc trong việc giải quyết tranh chấp và xung đột quốc tế. Sự quay trở lại của Liên bang Nga đã buộc Mỹ và Phương Tây phải điều chỉnh quan hệ đối ngoại. Cục diện đa cường bắt đầu xuất hiện. Trên bản đồ chính trị toàn cầu xuất hiện các trung tâm quyền lực.
Đó là tam giác Mỹ - Nga - Trung. Không có một sự kiện chính trị, quân sự, kinh tế nào ở Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Âu, Đại Tây Dương lại không thấy sự hiện diện của ba nước này. Tại các châu lục cũng xuất hiện các tam giác quyền lực khu vực. Như ở Liên minh Châu Âu (EU), tam giác Đức - Anh - Pháp đã đóng vai trò trụ cột và đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng kinh tế Châu Âu.
Tại Châu Á, tam giác Trung Quốc - Nhật Bản - Ấn Độ đóng vai trò trung tâm quyền lực chính trị và kinh tế. 11 Làn sóng toàn cầu hóa, khu vực hóa gia tăng. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, làn sóng toàn cầu hóa ngày càng lan rộng với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, tự do hóa thương mại. Sự liên kết hóa, toàn cầu hóa đã đẩy mạnh quá trình giao lưu kinh tế [29, tr.
Tuy nhiên, trong thực tế, sự phát triển không đều giữa các nước vẫn diễn ra tất yếu, vì vậy nó tạo nên một cuộc cạnh tranh rất quyết liệt giữa các nước và các khu vực. Trong quá trình cạnh tranh và phát triển, các nước đều đã thấy rõ toàn cầu hóa kinh tế không chỉ tạo ra những cơ hội, mà còn có cả những thách thức lớn lao. Cơ hội cho kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, quy mô lớn được tồn tại song song với những mâu thuẫn, xung đột và sự cạnh tranh gay gắt, phức tạp, những chấn động lớn về kinh tế, những biến động về thị trường… Trước xu thế đó, các quốc gia không thể đặt mình nằm ngoài vòng xoáy phát triển của thế giới. Về cục diện khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là nơi hiện diện và tập trung nhiều lợi ích và ưu tiên chiến lược của tất cả các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc, kế tiếp là Nga, Nhật Bản, EU, Ấn Độ.
Va chạm lợi ích và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc diễn ra ngày một phức tạp trong khu vực. Châu Á hiện là khu vực phát triển năng động nhất thế giới, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Từ năm 1990 đến năm 1997, trong khi tổng sản phẩm nội địa của Đông Á tăng trung bình mỗi năm 9,9%, của Trung Quốc tăng 10,2% và của Ấn Độ tăng 5,9% thì tổng sản phẩm nội địa của toàn thế giới tăng có 2,3%. Tương tự, từ năm 1997 đến năm 2004 trong khi tổng sản phẩm nội địa của các nước đang phát triển Châu Á tăng trung bình 6,4% mỗi năm, của Trung Quốc tăng 8,2% và Ấn Độ tăng 5,8% thì tổng sản phẩm nội địa của cả thế giới tăng có 3,7%[10, tr14].
Những năm đầu thế kỷ XXI trung tâm của nền kinh tế thế giới đang chuyển dần từ Tây Âu - Bắc Mỹ sang Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Châu Á - Thái Bình Dương ngày nay chiếm 60% GDP thế giới, 50% giá trị thương mại và 70% tăng trưởng kinh tế của thế giới[10, tr. Những nhân tố trên của bối cảnh quốc tế đã thúc đẩy quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia để nắm bắt thời cơ và đối phó với những 12 thách thức mới. Tuy mỗi nước có lợi ích dân tộc khác nhau, nhưng trong hoàn cảnh này, muốn hay không muốn, các nước đều phải lệ thuộc vào nhau, phải hợp tác với nhau dù chỉ là chiến thuật, để cùng phát triển hoặc cùng đối phó với những vấn đề đe dọa sự sinh tồn của mỗi nước và thế giới.
Vì vậy, các quốc gia, dân tộc, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu đều tăng cường hợp tác, liên kết với nhau theo nhiều tầng nấc. Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều chọn chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ để tạo dựng cho mình một vị trí có lợi nhất trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, về tương quan lực lượng trên thế giới cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI cũng có nhiều thay đổi. Nếu như trong Chiến tranh lạnh, tương quan lực lượng trên thế giới được phân tuyến rõ ràng, một bên là CNXH, một bên là CNTB, mọi mối quan hệ quốc tế đều bị chi phối bởi trật tự hai cực, thì sau năm 1991 cục diện thế giới cũng như cấu trúc quyền lực quốc tế và thế cân bằng chiến lược trên phạm vi toàn cầu đã có những thay đổi căn bản.
CNTB đứng đầu là Mỹ đã chi phối mạnh mẽ đời sống quốc tế. Trật tự thế giới mới đang trong quá trình thai nghén, không phải là đơn cực nhưng cũng không hẳn là đa cực. Vì vậy, nói đến tương quan lực lượng trên thế giới hiện nay là nói đến thực lực của các trung tâm quyền lực và tương quan lực lượng giữa các nước lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và quan hệ giữa các trung tâm này. Sau Chiến tranh lạnh, sự vận động của thế giới luôn bị chi phối bởi các nước lớn mà nổi lên hàng đầu là vai trò của Mỹ[16, tr.
Mỹ là cường quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật hùng mạnh vượt xa tất cả các đồng minh và đối thủ. Bên cạnh thực lực, một yếu tố nữa góp phần nâng cao vai trò và sức mạnh của Mỹ là tất cả các nước lớn khác đều tránh đối đầu với Mỹ cho dù giữa họ và Mỹ tồn tại nhiều mâu thuẫn nhưng họ đều cố gắng tỏ ra rất mềm mỏng để không làm cho quan hệ với Mỹ đổ vỡ. Ngoài ra các nước lớn cũng không có ý định hợp tác với nhau lập thành mặt trận chống bá quyền của Mỹ. Do đó Mỹ vẫn khẳng định được sức mạnh tuyệt đối so với các nước lớn khác, từ đó Mỹ đã và đang khai thác triệt để cục diện được hình thành hết sức có lợi cho Mỹ để đi tới khẳng định sự thống trị tuyệt đối của mình với toàn thế giới.
Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, trong tương quan lực lượng 13 của thế giới đã có những biến động mạnh mẽ, Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song bên cạnh “nhất siêu Mỹ”, các “đa cường” đã không ngừng lớn mạnh. Trung Quốc và Nga ngày càng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, từng bước vô hiệu hóa sức ép của Mỹ. Các nước EU và Nhật Bản cũng không ngừng vươn lên, tuy vẫn gắn bó với Mỹ nhưng các quốc gia này cũng đều đã muốn độc lập hơn, kiềm chế bớt sự lộng quyền của Mỹ và thúc đẩy xu thế đa cực hóa thế giới[3, tr. Trong hoàn cảnh đó, Mỹ càng coi trọng mục tiêu chiến lược là ngăn chặn sự xuất hiện của đối thủ có khả năng thách thức địa vị siêu cường độc tôn của mình trên thế giới bao nhiêu, lại càng tác động mạnh mẽ đến cục diện quan hệ giữa các nước bấy nhiêu, càng tạo động lực thúc đẩy sự hình thành của các cặp quan hệ đối tác chiến lược mới.
Sự thay đổi căn bản về tư duy quan hệ quốc tế của các nước cũng là cơ sở của những bước phát triển mới trong quan hệ quốc tế. Xuất phát từ sự thay đổi về tư duy chiến lược là đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, các khái niệm trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế cũng đã hoàn toàn thay đổi, khái niệm liên minh được thay bằng khái niệm đối tác và hình thức quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh trở thành phổ biến trong quan hệ quốc tế[14, tr. Xuất phát lợi ích quốc gia, bên cạnh việc các nước tìm mọi cách duy trì môi trường hòa bình và linh hoạt, uyển chuyển thực hiện chính sách đối noại nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước thì sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày cạng mạnh mẽ. Tính cạnh tranh đã trở thành vấn đề cốt lõi trong quan hệ quốc tế và chính nó đã tạo nên cơ sở thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia.
Nổi lên trên trường quốc tế trong những năm qua là sự cạnh tranh giữa các nước lớn.