phần mở đầu. Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1. Lý thuyết nghiên cứu 1. Lý thuyết về tộc người Từ khá sớm, trong các công trình nghiên cứu khoa học đã xuất hiện khái niệm tộc người, nhưng chưa trở thành một thuật ngữ ở cấp quốc gia.
Đến giữa thế kỷ XIX, ở Bỉ thuật ngữ tộc người mới được sử dụng để xác định thành phần dân tộc 7 của đất nước này. Sau đó, nhiều quốc gia khác cũng thực hiện hoạt động này như: Mĩ (1856), Phổ (1864), Hy Lạp (1865), Áo – Hung (1867), Nga (1862), Ấn Độ (1871), Miến Điện (1871), đến năm 1872 các tiêu chí xác định tộc người được bàn đến trong một Hội thảo quốc tế tổ chức tại Nga. Khi xem xét những đặc trưng của một tộc người, các học giả Dân tộc học đều có quan điểm riêng của mình. Những năm đầu thập niên 50, 60 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu ở Mĩ về các tiêu chí xác định tộc người đã chỉ ra các tiêu chí về: văn hóa, ngôn ngữ, tổ chức chính trị, lãnh thổ hoặc sự tương đồng về mặt sinh học, cùng chia sẻ những giá trị văn hóa cơ bản, có một khu vực của giao tiếp và tương tác, có mối quan hệ thành viên đặc trưng và được xác định bởi các cộng đồng khác.
Nhưng những tiêu chí này lại đồng nhất chủng tộc với nền văn hóa, ngôn ngữ, xã hội, làm hạn chế tính đa dạng vốn có của mối quan hệ tộc người luôn chịu tác động bởi yếu tố lịch sử, địa lý và tính linh hoạt, sáng tạo có chọn lọc của các cộng đồng người. Học giả Charles R. Keyes cho rằng, tộc người cần phải được nhìn nhận từ một nhóm có quan hệ nguồn gốc mà thành viên của nó chứng tỏ mối quan hệ này thông qua các thuộc tính văn hóa mà họ cùng chia sẻ và dựa trên các yếu tố văn hóa, sinh học của cộng đồng tộc người [115]. Trong khi học giả Leach cho rằng yếu tố quan trọng nhất là yếu tố văn hóa, còn học giả Webber lại đề cao yếu tố sinh học [118].
Đặc biệt là định nghĩa về dân tộc của Stalin đã có ảnh hưởng lớn đến quan điểm của các nhà Dân tộc học Xô Viết. Ông cho rằng dân tộc là một cộng đồng người ổn định, hình thành qua một quá trình phát triển lịch sử, cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế…[123]. Học giả Tokarev quan niệm về tộc người là một cộng đồng người dựa trên một hay nhiều mối gắn kết xã hội như: chung nguồn gốc, ngôn ngữ, lãnh thổ, sự liên kết nhà nước, mối quan hệ kinh tế, đặc trưng văn hóa, tôn giáo. Nhưng quan niệm này giả thuyết rằng chỉ có các đặc điểm chung về ngôn ngữ, tôn giáo, kinh tế quyết định sự tồn tại của tộc người.
Học giả Gumilev cho rằng quá trình hình thành tộc người là kết quả thích ứng ban đầu của một cộng đồng đối với điều kiện sinh thái bản địa và quá trình hình thành gen 8 tộc người chỉ diễn ra ở những nơi mà điều kiện sinh thái thích hợp với nó, quan niệm này chỉ xem tộc người và lịch sử tộc người dưới gốc độ sinh học. Đến thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về lịch sử tộc người và văn hóa truyền thống của các tộc người được công bố nhiều hơn. Sau thập niên 70, các vấn đề của quan hệ dân tộc, đô thị, nông thôn, kinh tế, xã hội và văn hóa…được quan tâm nghiên cứu. Dân tộc học đã tiếp thu những thành tựu lý thuyết và phương pháp mới của Nhân học và các ngành khoa học liên ngành.
Từ các phân tích trên cho thấy: có ba yếu tố thường được xem là những chỉ báo về thành phần tộc người gồm ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Tuy nhiên, phải có quan điểm nhận thức toàn diện, đầy đủ trong việc phân tích các chỉ báo xác định thành phần tộc người. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: không thể nào chỉ lấy ngôn ngữ để làm cơ sở cho việc xác định thành phần dân tộc [108]. Cùng quan điểm đó, Khổng Diễn nhận định: trong tất cả các đặc trưng tộc người thì ngôn ngữ là quan trọng nhất song, nó không phải là tiêu chí duy nhất, vì hiện nay trên thế giới có những dân tộc nói hai, ba thứ tiếng và ngược lại, nhiều dân tộc lại chỉ nói cùng một thứ tiếng [32].
Trong khi đó, ý thức tộc người thể hiện sự tự khẳng định của các thành viên trong cộng đồng tộc người qua quá trình phát triển tộc người. Đó là quá trình lưu giữ, phát huy những giá trị chính trị, đạo đức mang tính bản sắc của tộc người. Nhưng việc xác định thành phần dân tộc dựa vào ý thức tự giác tộc người mang tính chủ quan. Bởi vì, khi một tộc người cộng cư với các cộng đồng người khác, qua yếu tố hôn nhân ngoại tộc đã làm cho việc xác định một cá nhân thuộc về tộc người nào không được rạch ròi, lâu bền, đặc biệt là khi có liên quan đến chế độ, chính sách quyền lợi cho một tộc người cộng cư, cá nhân sẽ tự tự nhận báo về thành phần tộc người của mình theo cách có lợi nhất cho bản thân.
Cũng có trường hợp một người thuộc một tộc người cùng lúc có hai ý thức tự giác về thành phần tộc người của mình, vì nhà nước và bản thân họ xác định tộc danh của họ trên giấy tờ nhưng vẫn ý thức mình là một thành viên của tộc người khác. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử quy định, các nhà nghiên cứu dân tộc học Việt Nam đã đặt tiêu chí tự giác dân tộc 9 lên trên tiêu chí về đặc điểm văn hóa tộc người. Nhiều tác giả cho rằng, so với tất cả các tiêu chí khác, ý thức tự giác tộc người là tiêu chí đáng tin cậy nhất [37]. Phan Hữu Dật khẳng định trong ba tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí quan trọng nhất, có tính chất cốt lõi, có ý nghĩa quyết định là ý thức tự giác dân tộc [28].
Khổng Diễn cũng cho đây là tiêu chí cực kỳ quan trọng, suy cho cùng lại là cái quyết định để xác định thành phần dân tộc [32]. Văn hóa tộc người phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống tộc người. Mỗi tộc người có những đặc điểm riêng biệt về văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa tộc người. Theo tác giả Bế Viết Đẳng, chính những đặc điểm văn hóa của một cộng đồng, chứ không phải văn hóa của họ nói chung, là cái làm cho họ khác với những cộng đồng khác [34].
Theo thời gian và các yếu tố tác động, các nội dung văn hóa có thể thay đổi, chuyển đổi nhưng vẫn giữ được những đặc trưng văn hóa tộc người. Qua tiếp xúc tộc người về mọi phương diện, văn hóa của các tộc người bị biến đổi. Sự biến đổi này có thể làm cho văn hóa các tộc người phát triển phong phú thêm, nhưng cũng có thể bị mai một. Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu, tiếp xúc, nhiều tộc người không còn giữ những đặc điểm văn hóa riêng của mình nên chúng ta không nên chỉ dựa vào các đặc trưng sinh hoạt văn hóa mà xác định thành phần tộc người.
Từ các phân tích về tiêu chí xác định thành phần tộc người trên cho thấy, dù sao thì ý thức tộc người có ý nghĩa rất sâu sắc và mạnh mẽ, chi phối đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên trong cộng đồng. Khi có dấu hiệu thay đổi về ý thức tự giác của tộc người thì sẽ xuất hiện dấu hiệu thay đổi thành phần tộc người. Thực tế cho thấy, việc giữ gìn tộc người trước hết là giữ gìn tộc danh và ý thức về tộc người. Ở Việt Nam, khái niệm tộc người cũng xuất hiện khá sớm từ thời phong kiến nhưng chỉ được sử dụng cho các cộng đồng người khác, không phải là người Kinh.
Hoạt động xác định thành phần tộc người ở nước ta diễn ra chậm hơn 100 năm so 10 với thế giới. Đến năm 1979 Tổng cục thống kê mới công bố danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Trong thực tiễn cũng như khoa học, “Dân tộc” và “Tộc người” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Trong khi “Dân tộc” phải là một cộng đồng chính trị, bao gồm cư dân của một quốc gia có chung một nhà nước, một chính phủ, có luật pháp thống nhất,…thì “Tộc người” là cộng đồng người, không nhất thiết phải cư trú trên cùng lãnh thổ, có chung một nhà nước, dưới sự quản lý điều hành của một chính phủ với những đạo luật chung thống nhất.
Ở Việt Nam, hai khái niệm “Dân tộc” và “Tộc người” song song tồn tại. Khái niệm “Dân tộc” được dùng ở cấp độ quốc gia để chỉ Dân tộc Việt Nam bao gồm tất cả những người là công dân Việt Nam, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và Việt kiều ở nước ngoài. Bên cạnh đó, “Dân tộc” cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc Sán Dìu,… “Tộc người”, theo tác giả Phan Hữu Dật: Tộc người là một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc người biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hóa thống nhất [28]. Việc xác định “Tộc người” hay “Dân tộc”, GS.
Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “thường dựa trên những tiêu chí giống nhau. Có điều nếu tiêu chí quan trọng đối với dân tộc là lãnh thổ, là nhà nước (thiết chế chính trị), thì quan trọng đối với một tộc người, một nhóm địa phương lại là văn hóa, là ý thức tự giác tộc người” [108, tr. Như vậy, khi ta xem xét cụm từ “dân tộc Việt Nam” nghĩa là ta đang bàn đến một cộng đồng quốc gia được xác định bởi một lãnh thổ gắn liền với một thể chế chính trị - xã hội nhất định, tương ứng với thuật ngữ “nation”. Trong luận án này, chúng tôi xem xét cụm từ “dân tộc Khmer” đồng nghĩa với việc ta đang bàn đến một cộng đồng mang tính tộc người cụ thể.