phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát quan hệ Mỹ - Việt trƣớc năm 2001: đề cập đến quan hệ Mỹ - Việt với hai giai đoạn chính: 1975-1994 và 1995-2000 để thấy đƣợc sự thay đổi trong chính sách của Mỹ đối với Việt Nam cũng nhƣ những thăng trầm trong lịch sử quan hệ hai nƣớc, đi từ nghi kỵ, cấm vận, thắt chặt kinh tế đến bình thƣờng hóa quan hệ và đi đến đàm phán ký kết Hiệp định thƣơng mại song phƣơng giữa hai nƣớc. Chƣơng 2: Quan hệ Mỹ - Việt trên các lĩnh vực từ năm 2001 đến nay: Nghiên cứu quan hệ giữa hai nƣớc trên các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, an ninh quốc phòng. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Đánh giá và dự báo xu thế phát triển quan hệ Mỹ - Việt: Đánh giá những đặc điểm nổi bật trong quan hệ Mỹ - Việt, những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế và trở ngại còn tồn đọng, từ đó đƣa ra một số kiến nghị góp phần củng cố và cải thiện hơn nữa quan hệ giữa hai nƣớc. Tác giả cũng đƣa ra một số giải pháp nhằm tăng cƣờng quan hệ giữa hai nƣớc trong thời gian tới.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT QUAN HỆ MỸ - VIỆT TRƢỚC NĂM 2001 1. QUAN HỆ MỸ - VIỆT GIAI ĐOẠN 1975-1995 1. Tình hình Việt Nam và Mỹ Cuộc tổng tấn công chiến lƣợc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là sự kiện quan trọng bậc nhất trong lịch sử thế giới hiện đại và cũng là cú sốc nhất đối với nƣớc Mỹ, để lại những dấu ấn và di chứng không thể phai mờ trong lịch sử Mỹ và làm thay đổi căn bản quan hệ Mỹ - Việt.
Sau khi cuộc chiến tranh kết thúc năm 1975, quan hệ giữa hai nƣớc Mỹ - Việt trên các mặt ngoại giao, kinh tế đã rơi vào tình trạng đóng băng hoàn toàn trong một thời gian dài. Những di sản của chiến tranh đã đè nặng lên các quan hệ ngoại giao, sự xung đột về ý thức hệ trong Chiến tranh lạnh đã chế ngự các nỗ lực hƣớng đến một quan hệ mới và hai nƣớc đã thực hiện một chiến lƣợc đối đầu suốt hai thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 2/7/1976 nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời, cả nƣớc thống nhất, non sông thu về một mối cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Cũng trong thời gian này, Mỹ và Việt Nam đã bắt đầu đàm phán để thiết lập quan hệ ngoại giao.
Phía Việt Nam đã bày tỏ quan điểm của mình: Mỹ phải thực hiện đúng Hiệp định Paris năm 1973, theo đó Mỹ đã cam kết viện trợ tái thiết cho Việt Nam sau chiến tranh. Nhƣng Tổng thống Mỹ G.Ford đã bác bỏ yêu cầu này và đặt ra 2 điều kiện tiên quyết cho việc bình thƣờng hóa quan hệ ngoại giao; 2 điều kiện đó là: kiểm kê đầy đủ những ngƣời Mỹ bị coi là mất tích trong chiến tranh mà họ gọi là MIA và giải trình “những hành động gây căng thẳng liên tiếp của Việt Nam” ở Đông Nam Á [17, tr. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong 2 năm 1975-1976, Mỹ 3 lần phủ quyết việc Việt Nam gia nhập Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng phát triển châu Á. Mỹ làm ngơ trƣớc thiện chí mà Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ để tạo điều kiện cho hai bên có thể gặp nhau, nhằm giải quyết vấn đề còn lại giữa hai bên.
Đầu năm 1977, Jimmy Carter lên làm Tổng thống. Ngày 16/3/1977 cử đoàn phái viên của Tổng thống sang Việt Nam để thăm dò khả năng bình thƣờng hóa quan hệ với Việt Nam. Cũng trong tháng 3/1977, Tổng thống J.Carter cho phép tàu thủy, máy bay các nƣớc khác chở hàng cho Việt Nam đƣợc ghé qua các sân bay của Mỹ để lấy nhiên liệu. Đây là cố gắng của chính phủ Mỹ nhằm đạt đƣợc sự bình thƣờng hóa với Việt Nam.
Đối với Việt Nam, việc theo đuổi đƣờng lối phát triển kinh tế dựa trên cơ chế kế hoạch hoá, tập trung đã đƣa nền kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng gay gắt. Ngay từ đầu những năm 1980, quá trình cải cách kinh tế của hầu hết các nƣớc trong hệ thống XHCN, cho dù diễn ra với những cách tiếp cận khác nhau (liệu pháp Shock của Đông Âu, “Dò đá qua sông” của Trung Quốc), đã triển khai rộng khắp. Trƣớc những khó khăn nội tại và trào lƣu đổi mới trong bối cảnh mới của thế giới, Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy cải cách đó. Cũng cần nhận thấy rằng đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh đó không thể chỉ là thay đổi mô hình phát triển từ nền kinh tế chỉ huy chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng mà đổi mới ở đây phải bao hàm cả nội dung đổi mới trong quan hệ đối ngoại.
Bởi lẽ, nhìn vào thực lực kinh tế thời gian đó, các doanh nghiệp nhà nƣớc xƣơng sống của nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng của một ngôi nhà xây dở, việc “tự lực cánh sinh” trong phát triển kinh tế là nhiệm vụ bất khả thi, đồng thời những nƣớc có quan hệ “truyền thống” cũng đang vật lộn với cuộc cải cách của chính họ nên sự ủng hộ và giúp đỡ đối với Việt Nam là khó khăn. Chính vì vậy, việc tìm kiếm cơ hội hợp tác với các nƣớc là sự lựa chọn duy nhất cho Việt Nam. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thêm vào đó, việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia năm 1989 đƣợc Mỹ thừa nhận với ý nghĩa tích cực. Việt Nam có thái độ hợp tác trong việc tìm kiếm ngƣời Mỹ mất tích, và các vấn đề nhân đạo khác cũng đƣợc Mỹ ghi nhận là có thiện chí.
Hơn nữa, chính quyền và dƣ luận Mỹ ngày càng nhận thức rõ hơn một Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới. Vào tháng 5/1988, Bộ Chính trị khóa VI đã ra Nghị quyết số 13 về "nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới" nhấn mạnh chính sách "thêm bạn bớt thù", đa dạng hóa quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi [20, tr. Hội nghị Trung ƣơng 6, khóa VI (tháng 3.1989) đã cụ thể hoá đƣờng lối đối ngoại thời gian này là chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế [20, tr. Với cách tiếp cận mới trong tình hình mới, Việt Nam đã lần lƣợt thu đƣợc nhiều thành tích hoạt động đối ngoại những năm đầu thập niên 1990, từng bƣớc thoát ra khỏi thế cô lập trong bối cảnh tan vỡ của hệ thống XHCN, hội nhập từng bƣớc vào khu vực và thế giới.
Ngày 20/01/1988, Tổng thống Regan tuyên bố: Trong khung cảnh một giải pháp cho vấn đề Campuchia bao gồm Việt Nam rút hoàn toàn quân đội ra khỏi Campuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thƣờng hóa quan hệ với Việt Nam trên cơ sở tiến bộ trong vấn đề MIA trở lại trại cải tạo [17, tr. Bush đắc cử và đã quyết định thay đổi chính sách đối với Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới với nhiều hy vọng. Chính vì thế, đối với Mỹ, Việt Nam từ chỗ đơn giản chỉ là một đối thủ về hệ tƣ tƣởng, một kẻ chiến thắng cần phải tiêu diệt bằng những biện pháp cứng rắn, chuyển dần sang cần phải xem xét Việt Nam theo một cách khác, trên phƣơng diện là một thực thể với tổng hợp của nhiều yếu tố: nhân đạo, an ninh khu vực, tiềm năng kinh tế, dân chủ. Do vậy, Mỹ cần thiết phải có quan điểm mềm dẻo hơn, chi tiết hơn trong việc hoạch định chính sách đối với Việt Nam.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình khu vực Đông Nam Á Sau thắng lợi của cách mạng Đông Dƣơng năm 1975, tình hình khu vực Đông Nam Á cũng có những chuyển biến mới. Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á, khối quân sự SEATO tan rã. Tháng 2/1976, các nƣớc ASEAN ký Hiệp ƣớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ƣớc Bali), mở ra cục diện hoà bình, hợp tác trong khu vực.
Tuy nhiên, những bất đồng giữa Đông Dƣơng và ASEAN trong khu vực Đông Nam Á vẫn tồn tại. Một trong số các nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do các nƣớc trong khu vực lo ngại trƣớc tiềm lực quân sự của Việt Nam, họ cho rằng Việt Nam có thể can thiệp vào tình hình đất nƣớc của họ. Chính vì thế sự căng thẳng giữa hai nhóm nƣớc càng trở nên gay gắt xoay quanh “vấn đề Campuchia”, khi Việt Nam đƣa quân tình nguyện sang giúp đỡ nhân dân Campuchia chống lại họa diệt chủng năm 1979. Bế tắc này chỉ đƣợc khai thông bắt đầu từ năm 1989 khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và thực hiện các biện pháp đổi mới mạnh mẽ nhằm thoát khỏi tình trạng cô lập kinh tế và ngoại giao do chính sách cấm vận của Mỹ với sự tiếp tay của phƣơng Tây và châu Á khác tạo ra.
Những phản ứng thuận lợi đầu tiên với chính sách mới của Việt Nam đến từ các nƣớc ASEAN. Sau chuyến thăm của Thủ tƣớng Thái Lan Chartchai Choonhawan, ngƣời chủ trƣơng “biến Đông Dƣơng từ một chiến trƣờng thành một thị trƣờng” năm 1989 và sau khi Hiệp ƣớc Paris chấm dứt chiến tranh Campuchia đƣợc ký kết năm 1991, bang giao giữa Việt Nam và các nƣớc ASEAN chuyển từ nghi kỵ và đối đầu sang thân hữu và hợp tác. Ngay trong năm đó, tiến trình hội nhập của Việt Nam vào khối ASEAN bắt đầu với việc ký kết Hiệp ƣớc Thân thiện và Hợp tác, xu thế hoà giải, hoà nhập ở Đông Nam Á đã diễn ra mạnh mẽ. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tình hình thế giới tác động đến quan hệ Mỹ - Việt Sự kết thúc của Chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình toàn cầu hoá với sự tiếp sức của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra sôi động ở mức độ sâu rộng chƣa từng có trƣớc đó. Nhân loại đứng trƣớc một triển vọng phát triển, đồng thời lợi ích của từng quốc gia, dân tộc riêng lẻ cũng đƣợc đặt trƣớc những cơ hội lớn. Bị chi phối bởi những lợi ích chiến lƣợc, các nƣớc nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, các nƣớc lớn trong Liên minh châu Âu (EU) đều xúc tiến điều chỉnh mạnh chính sách đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng.