Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Từ trước đến nay, nghiên cứu về quan hệ kinh tế nói chung và liên quan đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Myanmar nói riêng đã được nhiều nhà học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đã công bố nhiều công trình có giá trị. Trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ đề cập một số công trình tiêu biểu nhất liên quan đến đề tài. Các công trình được tổng quan ở đây được phân loại theo các nội dung chủ yếu sau: 1. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.
Các nghiên cứu liên quan tới lý thuyết quan hệ kinh tế quốc tế Một mảng nghiên cứu quan trọng liên quan đến lý thuyết quan hệ kinh tế quốc tế là tập trung vào hướng nghiên cứu về lợi thế so sánh giữa các quốc gia, nền tảng của thương mại quốc tế. Cụ thể, nghiên cứu “Lợi thế và xu hướng xuất khẩu của Việt Nam trong quan hệ thương mại với ASEAN” của Huỳnh Ngọc Chương, Nguyễn Thanh Trọng [13] cho thấy Việt Nam duy trì được 91 nhóm mặt hàng có lợi thế so sánh thể hiện trong giai đoạn 2000 - 2015. Sự gia tăng xuất khẩu của Việt Nam vào ASEAN một phần do cầu thị trường tăng mạnh, cơ cấu ngành phù hợp và một phần đáng kể từ yếu tố lợi thế cạnh tranh, đặc biệt là trong giai đoạn 2007 - 2015. Từ các kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra những gợi ý về chính sách để phát huy lợi thế của Việt Nam trong quan hệ thương mại với ASEAN.
Nghiên cứu “Lợi thế so sánh của Việt Nam khi xuất khẩu hàng tinh chế” của tác giả Trần Chí Thiện [55] phân tích cơ cấu và sự chuyển biến về lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu hàng tinh chế trong giai đoạn 2007 - 2011. Nghiên cứu chỉ ra rằng lợi thế so sánh của Việt Nam trong xuất khẩu hàng tinh chế giảm xuống nhưng mức độ chuyên môn hóa ngày càng cao. Nghiên cứu có tiêu đề “Lợi thế so sánh bộc 11 lộ của Việt Nam và ASEAN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Bình Dương [24] đã trình bày lý thuyết về lợi thế so sánh bộc lộ (RCA) và phân tích lợi thế so sánh bộc lộ của Việt Nam và các nước ASEAN theo các nhóm hàng như gạo, cà phê, rau quả,. Tuy các công trình này chưa chỉ rõ lợi thế so sánh của Việt Nam khi đầu tư, liên kết thương mại với Myanmar như thế nào, song kết quả nghiên cứu đã mang lại những giá trị tham khảo đáng lưu ý cho đề tài nghiên cứu.
Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ kinh tế 1. Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ kinh tế nội khối ASEAN Các nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa các nước ASEAN có thể kể đến là Luận án Tiến sĩ “Hợp tác thương mại nội khối ASEAN: Phần thắng và phần thua” của Võ Văn Quyền [49]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã bàn về quan điểm đánh giá của Việt Nam về vai trò của thị trường nội khối ASEAN và những kết quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ở thị trường này trong 10 năm qua được thể hiện qua chỉ số tổng mức kim ngạch thực hiện và tốc độ tăng trưởng. Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu biểu thuế AFTA, cũng như thực trạng xu hướng gia tăng nhập khẩu của Việt Nam từ khối này trong mấy năm gần đây, bài viết chỉ ra những điểm thuận lợi của hàng hóa ASEAN đi vào thị trường Việt Nam, những khó khăn của hàng hóa Việt Nam trong cuộc cạnh tranh trên thị trường nội khối.
Trong cuốn sách “Hợp tác kinh tế Việt Nam với ASEAN và ASEAN mở rộng” (nhiều tác giả) của Bộ Công Thương [3], các tác giả đã trình bày quá trình hình thành và phát triển của ASEAN, từ đó mở rộng ra các cấu trúc hợp tác trong khuôn khổ ASEAN + 3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và ASEAN + 6 (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand). Cùng với đó, cuốn sách cũng phân tích quá trình hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN và ASEAN mở rộng trên tất cả các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, dịch vụ, hải quan, công nghiệp, nông - lâm – ngư nghiệp, 12 … và đưa ra triển vọng phát triển trong thời gian tới. Cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin mới từ cách nhìn tổng quát nhất quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với từng nước trong khu vực ASEAN và ASEAN mở rộng. Trong nghiên cứu có tiêu đề “Quan hệ đầu tư của ASEAN trong bối cảnh hình thành AEC 2015” của Nguyễn Cẩm Nhung và Nguyễn Thị Hải Lê [37], các tác giả đã phân tích và đánh giá quan hệ đầu tư của ASEAN trong bối cảnh hình thành AEC, đặc biệt tập trung làm rõ quan hệ đầu tư nội khối và ngoại khối của ASEAN giai đoạn 1995-2013.
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ trọng đầu tư ngoại khối vào ASEAN vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo trong tổng dòng vốn FDI vào ASEAN. ASEAN kỳ vọng sẽ trở thành một công xưởng sản xuất chung với nguồn lực thống nhất, đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng với giá còn tương đối rẻ sau khi AEC được hình thành vào cuối năm 2015. Điều này giúp ASEAN trở thành một khu vực hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư từ các nước phát triển và các nước thành viên cũng sẽ được hưởng lợi từ điều này. Bài viết rút ra một số hàm ý cho Việt Nam trong chiến lược thay đổi cơ cấu sản xuất và mô hình tăng trưởng để đón nhận các cơ hội đầu tư hiệu quả trong bối cảnh mới này.
Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ kinh tế Việt Nam - ASEAN Trong Luận án Tiến sĩ có tiêu đề “Quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và một số nước ASEAN phát triển”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Tâm [53] đã làm rõ thực trạng quan hệ thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và bốn nước ASEAN phát triển hơn như Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các nước ASEAN nói chung và 04 nước ASEAN phát triển hơn nói riêng có vị trí rất quan trọng trong quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam. Các nước này là một trong những cơ sở, động lực thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho việc điều chỉnh chính sách thương mại nói chung của Việt Nam trong thời gian tới trên các góc độ như: giải pháp đối với 13 nhóm hàng hóa nhập khẩu, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với nhóm hàng hóa xuất khẩu, điều chỉnh chính sách thuế quan, hoàn thiện các biện pháp phi thuế quan và các giải pháp khác. Tác giả Nguyễn Huy Hoàng [30] với nghiên cứu “Tác động của Cộng đồng kinh tế ASEAN đến quá trình hội nhập ngành công nghiệp Việt Nam” đã phân tích ảnh hưởng của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đến quá trình hội nhập của khu vực công nghiệp của Việt Nam, qua đó đưa ra một số hàm ý liên quan nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp Việt Nam thời gian tới.
Bài viết chủ yếu đánh giá những tác động của AEC đến ngành công nghiệp của Việt Nam qua các kênh thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với các quốc gia trong AEC. Luận án Tiến sĩ: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN” của Trần Lan Hương [32] đã xem xét một cách tương đối toàn diện các yếu tố có thể tác động tới xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường các nước ASEAN. Qua đó, phần nào góp phần thể hiện vị trí và vai trò ngày càng tăng của thị trường ASEAN đối với Việt Nam. Luận án đã chỉ ra với đặc thù thị trường ASEAN khá gần gũi với Việt Nam, cần có chính sách thương mại riêng với từng thị trường, từng nước trong khu vực thông qua kênh ngoại giao quốc tế, đồng thời do trình độ phát triển khác nhau nên chính sách khai thác thị trường ở các nước ASEAN-6 sẽ khác 03 nước ASEAN còn lại.
Luận án Tiến sĩ: “Vai trò của nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)” của Nguyễn Thị Ánh Tuyết [65] đã phân tích đánh giá tác động của vai trò nhà nước đến điều kiện phát triển du lịch Việt Nam trước và sau khi hình thành AEC, kết quả phân tích và các dữ liệu khảo sát cho thấy vai trò cao hơn của nhà nước sau khi hình thành AEC trong vấn đề: gia tăng quy mô du lịch, cơ cấu lại ngành du lịch, nâng cao hiệu quả phát triển du lịch, nâng cao vị thế du lịch Việt 14 Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án cũng đã đề xuất các nhóm giải pháp trực tiếp và các nhóm giải pháp bổ trợ nhằm hoàn thiện vai trò của nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam sau khi hình thành AEC. Luận án đã đưa ra được bức tranh chung về du lịch Việt Nam sau khi hình AEC và đưa ra các khuyến nghị hữu ích để phát triển du lịch của Việt Nam, tăng cường thu hút khách du lịch của các nước ASEAN đến Việt Nam. Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Myanmar Khi đề cập đến các nghiên cứu về quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar, không thể không nhắc đến tác giả Chu Công Phùng [42] với nhiều nghiên cứu tiêu biểu như cuốn sách “Kinh doanh ở Việt Nam và Myanmar: Những điều cần biết”.
Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về đất nước Myanmar, về đầu tư nước ngoài và cơ hội đầu tư của Việt Nam tại Myanmar. Cuốn sách có 02 phần; trong đó một phần viết về cơ hội đầu tư tại Việt Nam, một phần viết về cơ hội đầu tư tại Myanmar nên chưa đưa ra những phân tích sâu và cụ thể về khả năng phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar. Nghiên cứu cũng mới chỉ dừng ở năm 2011 nên chưa được cập nhật những vấn đề mới mà Myanmar cũng như Việt Nam đang gặp trong giai đoạn hiện nay. Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề “Cơ hội đầu tư và kinh doanh ở Myanmar”, tác giả Chu Công Phùng [43] đã tiếp tục đưa ra bức tranh chung của nền kinh tế Myanmar từ năm 2011 đến 2016; phân tích chính sách thương mại, đầu tư nước ngoài, thuế, lao động, giác dục, y tế, thông tin, du lịch tại Myanmar.