Chương 1 CHU TRƯƠNG DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIEN QUAN HỆ KINH TE VIỆT NAM - LIEN XO TỪ NĂM 1976 DEN NAM 1981 1.1 Nhimg diéu kién cho viéc duy tri phat trién quan hé kinh té Việt Nam — Liên Xô giai đoạn 1976 — 1981 1. Vài nét về tình hình quốc té và trong nước sau năm 1975 Quan hệ kinh tế giữa Liên Xô và Việt Nam trong nửa thứ hai của những năm 70, đầu những năm 80 đã phát triển mạnh mẽ trong điều kiện khác hơn so với những thời kỳ trước đó. Tình hình quốc tế vẫn đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh tuy có khuynh hướng hòa dịu nhưng đối đầu vẫn là chủ yếu. Quan hệ Mỹ - Xô vẫn căng thắng.
Việc phê chuẩn Hiệp ước hạn chế vũ khí tấn công chiến lược giai đoạn 2 (SALT - 2) bị trì hoãn. Mỹ đơn phương đình chỉ các cuộc hội đàm với Liên Xô trong lĩnh vực hạn chế vũ trang. Quan hệ Mỹ - Trung Quốc đang được cải thiện nhiều trong khi quan hệ Xô — Trung vẫn còn căng thăng. Quan hệ Việt Nam — Mỹ vẫn căng thăng.
Sau cuộc chiến ở Việt Nam, Mỹ ở vào thời kỳ “hội chứng sau Việt Nam”, từ năm 1975 đến năm 1994, Hoa Kỳ thi hành chính sách bao vây cam vận về mặt kinh tế đối với Việt Nam và dùng quyền lực của mình ngăn cản các nỗ lực giúp đỡ Việt Nam từ quốc tế. Bên cạnh đó,các thế lực phản động khác cũng thi hành chính sách bao vây kinh tế, phân biệt đối xử hòng làm tê liệt nền kinh tế của Việt Nam. Quan hệ Việt — Trung cũng xấu đi trong van đề biên giới trên đất liền và ngoài hải đảo. Sự hợp tác về kinh tế thương mại giữa Trung Quốc với Việt Nam bị thu hẹp, sau đó đã hoàn toan chấm dứt và Bắc Kinh chuyền sang thi hành chính sách thi địch đối với Việt Nam.
Trung Quốc ráo riết dụ dỗ, cưỡng ép người Hoa ở Việt Nam đi Trung Quốc, 20 vạn người Hoa 11 bỏ ruộng đồng, nhà máy ra đi đã gây ra những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam. Trung Quốc dùng cái gậy viện trợ dé đồng thời đánh Việt Nam về kinh tế. Chỉ trong hơn một tháng, bất chấp luật pháp và tập quán quốc tế, Trung Quốc đơn phương tuyên bố chấm dứt toàn bộ viện trợ kinh tế và kỹ thuật Trung Quốc đang công tác ở Việt Nam bao gồm các công trình giao thông quan trọng, một số nhà máy đang xây dựng dé dang. Đi đôi với việc cắt viện trợ, rút chuyên gia, Trung Quốc con vận động các nước, các tô chức quốc tế ngừng viện trợ cho công cuộc xây dựng lại Việt Nam.
Song song với các hoạt động phá hoại về kinh tế, chính trị, những người cầm quyền Trung Quốc ráo riết tăng cường sức ép quân sự với Việt Nam từ mọi phía. Cuối năm 1978, đầu năm 1979 Trung Quốc gây ra cuộc chiến tranh biến giới ở phía tây nam và phía bắc. Những hành động đó của Trung Quốc đã đây quan hệ Việt — Trung lên mức căng thắng [65; tr. Trong khu vực Đông Nam Á, quan hệ Việt Nam — Campuchia cũng trở nên căng thăng.
Vấn đề Campuchia nổi lên gay gắt. Những xung đột nảy sinh ở biên giới phía Tây — Nam nước ta và biên giới phía Bắc đang tăng lên. Pôn Pốt -lêng-xa-ry khước từ đề nghị của Việt Nam về việc hai bên thành lập một khu vực phi quân sự ở biên giới. Dưới sự đạo diễn của Bắc Kinh, tập đoàn cầm quyền phản động Phnôm Pênh lúc đó tiễn hành liên tục một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp vu khống Việt Nam “xâm lược Cam-pu-chia”, “âm mưu ép Cam-pu-chia vào liên bang Đông Dương do Việt Nam khống chế”, ráo riết hô hào chiến tranh chống Việt Nam.
Cuộc đàm phán giữa hai nước đã bị phá hoại nhằm giải quyết vẫn đề biên giới để có cớ duy trì một tình hình ngày càng căng thăng ở vùng biên giới hai nước. Từ những cuộc khiêu khích vũ trang, một cuộc chiến tranh biên giới phía tây Việt Nam đã xảy ra từ tháng 4/1977 [65; tr. 12 Tình hình trong nước cũng gặp nhiều khó khăn. Nhìn chung cả nước sản xuất nhỏ van còn phổ biến.
Tính chất sản xuất nhỏ thé hiện rõ nét trên mất mặt chính: cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu; tuyệt đại bộ phận lao động là thủ công; năng xuất lao động xã hôi rất thấp; phân công lao động chưa phát triển; công nghiệp lớn, nhất là công nghiệp nặng còn ít và rời rạc, chưa đủ sức cải tạo kỹ thuật đối với các nganh kinh tế quốc dân.khối lượng sản phẩm còn ít chưa đảm bảo được nhu cầu tái sản xuất mở rộng và nhu cầu đời sống nhân dân. Mặt khác, Việt Nam vừa bước ra khỏi chiến tranh còn có rất nhiều khó khăn: đó là tình trạng đất nước bị chiến tranh tan phá nặng nè, tiến thang lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh khốc liệt và của chế độ thực dân cũ và mới để đòi hỏi nhân dân Việt Nam phải khắc phục trong thời gian dài. Thêm vào đó, hai cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc và Cam-pu-chia càng làm cho đất nước khó khăn, gây ra tình trạng mat cân đối nghiêm trọng trong hệ thống quản lý kinh tế từ lâu không thay đổi.
Tất cả những điều đó đã đặt Việt Nam vào một tình thé rat khó khăn về mọi mặt. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, hoàn cảnh quốc tế cũng có nhiều thuận lợi. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang lớn mạnh không ngừng, phong trào độc lập dân tộc và phong trào cach mang của giai cấp công nhân đang trên đà phát triển mạnh liệt. Chủ nghĩa đế quốc đang vấp phải những khó khăn do khủng hoảng.
Trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng mới về khoa học kỹ thuật. Cách mạng khoa học- kỹ thuật đang phát triển dồn dập, tạo ra lực lượng sản xuất mới đồ sộ chưa từng có. Mọi dân tộc đều có khả năng nắm lấy những thành tựu đó, bằng con đường đi tắt, tiến lên ngang trình độ các nước đang phát triển. Quan hệ về kinh tế và khoa học, kỹ thuật giữa các nước ngày càng mở rộng.
Các nước trong cộng 13 đồng xã hội chủ nghĩa đã xây dựng được nền móng quốc phòng vững mạnh, phát triển cách mạng khoa học kỹ thuật cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Sự liên kết kinh tế ngảy càng rộng mở, việc đây mạnh hợp tác về các mặt sản xấu và khoa học, kỹ thuật cũng như sự phối hợp hặt chẽ trên các mặt chính trị và ngoại giao đã mở ra triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh giữa một bên là chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình với một bên là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động hiếu chiến đang diễn ra quyết liệt và phức tạp [27: tr. Quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam — Liên Xô tiếp tục phat triển trong hoàn cảnh mới.
Trong thời kỳ khó khăn của nhân dân Việt Nam, Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô vẫn như giai đoạn trước đó đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam trong việc khôi phục và phát triển kinh tế. Tiếp tục duy trì phát triển hợp tác kinh tế toàn điện với Liên Xô, Việt Nam sẽ nhận được nguồn viện trợ to lớn vô cùng quan trọng trong công cuộc khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa, Việt Nam dự định giai đoạn đầu tiên công nghiệp hóa sẽ xây dựng trước hết các ngành cơ sở của công nghiệp và giao thông vận tải, nên khi hợp tác kinh tế với Liên Xô, Việt Nam sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm, tận dụng được sự phát triển công nghệ dé đây nhanh hon quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam. Mặt khác, xét trên thực tế theo chiến lược chung của Liên Xô, Việt Nam có vị trí đặc biệt về chính trị và địa lý, Liên Xô muốn Việt Nam mạnh dé bạn đỡ gánh vác và tạo ảnh hưởng chung của chủ nghĩa xã hội ở Đông nam châu Á nên Liên Xô tích cực giúp đỡ Việt Nam, đặc biệt là những lúc và những van dé gay can nhất có thé gây nên tình trạng bat ôn thì Liên Xô không thé không quan tâm [69; tr.
14 Mặt khác, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa lớn mạnh nhất, luôn luôn đi hàng đầu trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa dé quốc và các thé lực phản động, góp phần công hiến to lớn nhất đối với sự nghiệp cách mang của các dân tộc. Báo cáo của Ủy ban trung ương Đảng cộng sản Liên Xô tại Đại hội lần thứ XXVI đã nêu rõ vào nửa thứ hai của những năm 70, trên cơ sở những thành tựu khoa học, đã đạt được sự phát triển cao hơn của các ngành hiện đại, như xây dựng các nhà máy nguyên tử, công nghiệp điện tử và vi điện tử, kỹ thuật la-de, san xuất kim cương nhân tạo cũng như các vật liệu nhân tạo mới. Khi đánh giá kết quả phát triển kinh tế của Liên Xô những năm 70, có thé nói rằng trong thời kỳ đó về tiềm lực khoa học — kỹ thuật và kinh tế đã tiến gần đến gần trình độ kinh tế của Mỹ, còn về sản xuất một số sản phẩm quan trong thì đã vượt qua Mỹ. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, mà Liên Xô là nước hùng cường nhất, tiên tiễn nhất, đang không ngừng mở rộng và lớn mạnh nhanh chóng, là thành quả chung của chủ nghĩa cộng sản khoa học, là thành trì vững chắc của hòa bình và cách mạng thế giới, là dân tộc quyết định cục diện quốc tế và xu thế phát triển của lịch sử loài người.
Do đó, đoàn kết và phát triển quan hệ về mọi mặt với Liên Xô luôn luôn là chính sách cơ bản có tính nguyên tắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cũng vào giai đoạn này, cuộc khủng hoảng về năng lượng dầu mỏ đã tác động mạnh mẽ tới nhiều quốc gia, dân tộc nhưng các nhà lãnh đạo Liên Xô lại cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng chung toàn thế giới, hơn nữa các nguồn tải nguyên của Liên Xô vẫn còn đồi dao nên chậm đề ra đường lối cải cách, không kip thời có những biện pháp đối phó. Kết quả là nền kinh tế Liên Xô trong những năm 70 có dấu hiệu suy giảm rồi khủng hoảng và đến đầu những năm 80 đã trở nên khủng hoảng tram trọng.