Luận văn thạc sĩ ussh quan điểm của samuel p huntington về tương lai các nền văn minh trong tác phẩm sự va chạm của các nền văn minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh quan điểm của samuel p huntington về tương lai các nền văn minh trong tác phẩm sự va chạm của, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2018

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ TƯƠNG LAI CÁC NỀN VĂN MINH CỦA S.HUNTINGTON TRONG TÁC PHẨM “SỰ VA CHẠM CỦA CÁC NỀN VĂN MINH”

1.1. Một số đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI

1.2. Tiền đề lý luận cho sự hình thành quan điểm về tương lai các nền văn minh của S.

1.3. Giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của S.Huntington và tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh”

1.4. Vài nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của Samuel P.

1.5. Tác phẩm “Sự va chạm của các nền văn minh”

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUAN ĐIỂM CỦA S.HUNTINGTON VỀ TƯƠNG LAI CÁC NỀN VĂN MINH TRONG TÁC PHẨM “SỰ VA CHẠM CỦA CÁC NỀN VĂN MINH”

2.1. Khái niệm “văn minh” và sự phân chia các nền văn minh theo quan điểm của S.

2.2. Khái niệm “văn minh”

2.3. Sự phân chia các nền văn minh và mối quan hệ giữa các nền văn minh trong lịch sử theo quan điểm của S.

2.4. Quan điểm của S.Huntington về sự xung đột và tương lai của các nền văn minh

2.5. Chính trị toàn cầu đang được tái định dạng trên cơ sở các nền văn minh

2.6. Sự đụng độ giữa các nền văn minh là nhân tố chi phối tình hình chính trị thế giới

2.7. Tương lai các nền văn minh trong bối cảnh chính trị hiện nay

2.8. Đánh giá những đóng góp và hạn chế trong quan điểm của S.Huntington về tương lai các nền văn minh

2.8.1. Những đóng góp trong quan điểm về tương lai các nền văn minh của S.

2.8.2. Những hạn chế trong quan điểm về tương lai các nền văn minh của S.

2.9. Tiểu kết chương 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quan Điểm Của Samuel P

Samuel P. Huntington, một trong những nhà lý luận chính trị nổi bật, đã đưa ra quan điểm gây tranh cãi về tương lai các nền văn minh trong tác phẩm "Sự va chạm của các nền văn minh". Ông cho rằng, sau thời kỳ chiến tranh lạnh, xung đột giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chính chi phối chính trị toàn cầu. Quan điểm này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cấu trúc quyền lực thế giới mà còn chỉ ra những thách thức mà nhân loại phải đối mặt trong bối cảnh toàn cầu hóa.

1.1. Khái Niệm Văn Minh Theo Quan Điểm Của Huntington

Huntington định nghĩa "văn minh" là một cấp độ cao nhất của sự phát triển văn hóa, bao gồm các yếu tố như tôn giáo, ngôn ngữ, và phong tục tập quán. Ông phân chia thế giới thành các nền văn minh lớn, trong đó có văn minh phương Tây, văn minh Hồi giáo, và văn minh Ấn Độ. Mỗi nền văn minh có những đặc điểm riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng sẽ quyết định tương lai của chính trị toàn cầu.

1.2. Tác Động Của Toàn Cầu Hóa Đến Các Nền Văn Minh

Toàn cầu hóa đã làm tăng cường sự giao thoa giữa các nền văn minh, nhưng cũng tạo ra những xung đột mới. Huntington cho rằng, sự gia tăng tương tác giữa các nền văn minh có thể dẫn đến xung đột, đặc biệt là khi các giá trị văn hóa khác nhau va chạm. Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng duy trì hòa bình trong một thế giới đa văn hóa.

II. Những Thách Thức Chính Đối Với Tương Lai Các Nền Văn Minh

Trong bối cảnh hiện nay, các nền văn minh đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc, xung đột tôn giáo, và sự phân cực chính trị đang làm gia tăng căng thẳng giữa các nền văn minh. Huntington nhấn mạnh rằng, những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các quốc gia mà còn đến sự ổn định của toàn cầu.

2.1. Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh

Huntington cho rằng, xung đột giữa các nền văn minh sẽ trở nên phổ biến hơn trong tương lai. Ông chỉ ra rằng, các cuộc chiến tranh không còn chỉ diễn ra giữa các quốc gia mà còn giữa các nền văn minh. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lược đối phó hiệu quả để giảm thiểu xung đột.

2.2. Tác Động Của Chủ Nghĩa Dân Tộc

Chủ nghĩa dân tộc đang gia tăng mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới, dẫn đến sự phân chia và xung đột giữa các nhóm văn hóa khác nhau. Huntington cảnh báo rằng, nếu không được kiểm soát, chủ nghĩa dân tộc có thể dẫn đến những cuộc xung đột nghiêm trọng hơn giữa các nền văn minh.

III. Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Giữa Các Nền Văn Minh

Để giải quyết các xung đột giữa các nền văn minh, Huntington đề xuất một số phương pháp. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn minh và khuyến khích đối thoại văn hóa. Việc xây dựng các cơ chế hợp tác quốc tế cũng là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu xung đột.

3.1. Đối Thoại Văn Hóa Như Một Giải Pháp

Huntington cho rằng, đối thoại văn hóa là cần thiết để xây dựng cầu nối giữa các nền văn minh. Việc tổ chức các diễn đàn văn hóa và hội thảo quốc tế có thể giúp tăng cường sự hiểu biết và giảm thiểu định kiến giữa các nền văn minh khác nhau.

3.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác quốc tế là một phương pháp quan trọng để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Huntington nhấn mạnh rằng, các quốc gia cần phải hợp tác để đối phó với các thách thức chung như khủng bố, biến đổi khí hậu và các vấn đề kinh tế. Sự hợp tác này không chỉ giúp giảm thiểu xung đột mà còn thúc đẩy phát triển bền vững.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quan Điểm Huntington Về Tương Lai Các Nền Văn Minh

Quan điểm của Huntington về tương lai các nền văn minh có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chính trị đến kinh tế và văn hóa. Việc hiểu rõ các nền văn minh và mối quan hệ giữa chúng có thể giúp các nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định chính trị đúng đắn hơn.

4.1. Ứng Dụng Trong Chính Sách Đối Ngoại

Các nhà lãnh đạo có thể sử dụng quan điểm của Huntington để xây dựng chính sách đối ngoại hiệu quả hơn. Việc hiểu rõ các nền văn minh và mối quan hệ giữa chúng sẽ giúp các quốc gia có chiến lược hợp tác và đối phó với xung đột tốt hơn.

4.2. Ứng Dụng Trong Giáo Dục

Giáo dục cũng là một lĩnh vực quan trọng để áp dụng quan điểm của Huntington. Việc giảng dạy về các nền văn minh và sự đa dạng văn hóa có thể giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về thế giới và giảm thiểu định kiến.

V. Kết Luận Về Tương Lai Các Nền Văn Minh

Tương lai các nền văn minh theo quan điểm của Samuel P. Huntington là một chủ đề phức tạp và đầy thách thức. Mặc dù có nhiều xung đột và thách thức, nhưng cũng có nhiều cơ hội để xây dựng một thế giới hòa bình hơn. Việc hiểu rõ các nền văn minh và mối quan hệ giữa chúng sẽ là chìa khóa để đạt được điều này.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Hiểu Biết Lẫn Nhau

Việc hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn minh là rất quan trọng để giảm thiểu xung đột. Các quốc gia cần phải nỗ lực để xây dựng cầu nối và tăng cường sự giao lưu văn hóa.

5.2. Hướng Tới Một Tương Lai Hòa Bình

Hướng tới một tương lai hòa bình đòi hỏi sự hợp tác và nỗ lực từ tất cả các quốc gia. Việc xây dựng một trật tự thế giới dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nền văn minh sẽ là mục tiêu cần đạt được.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 2 chƣơng, 6 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM VỀ TƢƠNG LAI CÁC NỀN VĂN MINH CỦA S.HUNTINGTON TRONG TÁC PHẨM “SỰ VA CHẠM CỦA CÁC NỀN VĂN MINH” 1. Một số đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI là giai đoạn thế giới đầy biến động với hàng loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội to lớn. Khái quát lại, có thể thấy các đặc điểm chính nhƣ sau: Thứ nhất, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nƣớc Đông Âu và Liên Xô đã tác động nghiêm trọng đến cục diện chính trị thế giới.

Sự tan rã của Liên Xô đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời. Là cực duy nhất còn lại, Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cƣờng, mƣu đồ giữ vai trò chi phối bá chủ thế giới. Chính với ý đồ đó, sau chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là G. Bu-sơ (cha) đã vội vàng tuyên bố về “một trật tự thế giới mới”, hàm ý nói trật tự đó là do Mỹ lãnh đạo và Liên Hợp Quốc là công cụ.

Sa-mu-en R. Bec-gơ, một chiến lƣợc gia của Mỹ cho rằng, sự lãnh đạo của nƣớc Mỹ đối với thế giới vào lúc này là sự cần thiết và cấp bách. Văn bản chỉ đạo chính sách quốc phòng 1992-1994 cũng vạch rõ nhiệm vụ của Mỹ là “phải ngăn chặn” mọi đối thủ chiếm giữ các vùng có nguồn lực giúp cho họ trở thành đại cƣờng quốc, phải “làm nản lòng” các nƣớc công nghiệp phát triển thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ. Các chuyên gia nghiên cứu chiến lƣợc thuộc Hội đồng Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ cho rằng, Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất có “sứ mệnh” nhƣ một đầu tàu của quá trình “mở rộng dân chủ” trên phạm vi toàn thế giới [33].

Tuy nhiên, chỉ mƣời năm sau chiến tranh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạnh, chúng ta có thể thấy ý đồ của Mỹ trong việc thiết lập một trật tự theo kiểu Pax Americana đã không thành công. Mặc dù là siêu cƣờng duy nhất nhƣng Mỹ chƣa đủ mạnh để giải quyết các vấn đề trong nội bộ nƣớc Mỹ cũng nhƣ các vấn đề toàn cầu mà không có sự tham gia của cộng đồng quốc tế, bởi các nƣớc lớn và các liên minh khu vực đóng vai trò hết sức quan trọng. Đây là những đối thủ tiềm tàng đáng gờm, bởi thế, muốn đạt đƣợc địa vị duy nhất lãnh đạo thế giới, Mỹ phải làm suy yếu các đối thủ này. Tuy nhiên sự thật đã cho thấy, các đối thủ đe doạ địa vị “lãnh đạo” thế giới của Mỹ không những không bị suy yếu mà càng ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ.

Và cuối cùng, tuy vẫn không từ bỏ ý đồ lãnh đạo thế giới, Mỹ đã phải công nhận các cƣờng quốc khác, đặc biệt là Nga và Trung Quốc là đối tác hoặc bạn bè chiến lƣợc. Nhƣ vậy, có thể thấy sau chiến tranh lạnh, một trật tự quốc tế mới theo hƣớng đa cực bƣớc đầu đã hình thành, số cƣờng quốc có vai trò quyết định trong trật tự đó ngày càng đông hơn, trong lúc vai trò siêu cƣờng độc nhất của Mỹ ngày càng bị thu hẹp. Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển nhƣ vũ bão đã và đang làm thay đổi tƣ duy và nhận thức trong đời sống sinh hoạt quốc tế. Thế giới là một thể thống nhất và đa dạng, tùy thuộc lẫn nhau ngày càng tăng, nhu cầu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trở nên cấp bách.

Xu hƣớng lành mạnh hóa, dân chủ hóa trong sinh hoạt quốc tế ngày càng đƣợc rõ nét. Những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội mang tính toàn cầu nhƣ: nguy cơ chiến tranh hạt nhân hủy diệt, vấn đề dân số và môi trƣờng sinh thái… đang là những vấn đề cấp bách và nóng bỏng đe dọa sự tồn tại của cộng đồng thế giới và nền văn minh nhân loại. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của tất cả các nƣớc trong cộng đồng quốc tế, trên tinh thần thực sự nhân đạo vì sự sống còn của con ngƣời. Sự xích lại gần nhau, tăng cƣờng sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia dân tộc bắt nguồn chính từ nhu cầu khách quan này.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt, dƣới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, mà trƣớc tiên là cuộc cách mạng tin học đã xuất hiện xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa. Toàn cầu hóa là sự thể hiện thế giới mở, khắc phục dần tình trạng khép kín, biệt lập giữa các quốc gia dân tộc. Trong tác phẩm Thế giới phẳng, Thomas Friedman đã nghiên cứu hiện tƣợng toàn cầu hoá một cách rất hệ thống. Theo ông, trong xu thế toàn cầu hoá, mối quan hệ xã hội giữa ngƣời với ngƣời đƣợc gắn kết một cách dễ dàng và chặt chẽ hơn bao giờ hết.

Con ngƣời tƣơng tác với nhau không phụ thuộc vào các cách thức và phƣơng tiện truyền thống nhƣ mặt đối mặt hay sử dụng thƣ từ, điện thoại; mà họ đƣợc kết nối với nhau bởi một mạng Internet toàn cầu xuyên biên giới dựa trên việc sử dụng máy tính cá nhân và máy tính để bàn. Chính điều này đã khiến cho mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đƣợc mở rộng hơn bao giờ hết trên phạm vi toàn thế giới, nó cho phép con ngƣời “làm phẳng” rất nhiều trở ngại, khó khăn cả về mặt không gian địa lý lẫn về mặt cách thức giao tiếp. Từ đó, con ngƣời giải quyết đƣợc nhiều công việc phức tạp hơn, bao gồm cả vấn đề lao động, thƣơng mại quốc tế. Ông cũng cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hoá, cơ hội của mỗi cá nhân đƣợc phân chia đồng đều, bình đẳng hơn.

“…sân chơi đang trở nên công bằng. Ý ông muốn nói là các nƣớc nhƣ Ấn Độ hiện có cơ hội hơn bao giờ hết trong cạnh tranh trên thị trƣờng lao động tri thức toàn cầu – và rằng Mỹ cần chuẩn bị tốt cho quá trình cạnh tranh này. Vị thế của Mỹ sẽ bị thách thức nhƣng, ông nhấn mạnh, thách thức là tốt cho nƣớc Mỹ bởi vì chúng ta sẽ phát huy tối đa khi bị thách thức” [29]. Đồng thời với quá trình đó là sự vận động, tập hợp lực lƣợng mới trên quy mô toàn cầu và khu vực diễn ra phức tạp.

Đó là quá trình làm thay đổi vị trí, quyền lực của từng quốc gia, và vị trí địa – chính trị của từng khu vực và toàn cầu. Cuộc cách mạng thông tin, quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã tác động sâu sắc, toàn diện đến đời sống quan hệ quốc tế, đến chính sách của các quốc gia dân tộc, đã chi phối 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh mẽ đến trật tự mới của từng khu vực và thế giới, làm cho con ngƣời có nhu cầu khẳng định và bảo vệ bản sắc riêng của mình, cũng nhƣ bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Đây cũng là một trong những lý do dẫn tới sự xuất hiện tƣ tƣởng “xung đột văn minh”. Thứ ba, vai trò, ảnh hƣởng và sức mạnh của châu Á-Thái Bình Dƣơng ngày càng tăng lên; cán cân quyền lực chuyển dần sang châu Á và có dự kiến cho rằng thời điểm đó là năm 2050 khi GDP của Trung Quốc bằng Mỹ.

Vị thế của các nƣớc vừa, đặc biệt là Úc, Canada và các nƣớc ASEAN trong việc đẩy mạnh hợp tác kinh tế cũng nhƣ an ninh ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng ngày càng đƣợc nâng cao. Trƣớc sự sụp đổ của Liên Xô cũ, Mỹ trở thành siêu cƣờng toàn diện duy nhất. Tuy nhiên, sự nổi lên của Trung Quốc - một siêu cƣờng trong thế kỷ XXI, sức mạnh kinh tế đang đƣợc dần chuyển thành sức mạnh chính trị của Nhật và vai trò tuy đã suy yếu của Nga so với Liên Xô cũ nhƣng vẫn giữ vị trí đặc biệt ở châu Âu đã không cho phép Mỹ giữ một vị trí độc tôn trong nền chính trị quốc tế. Mặt khác, với quá trình toàn cầu hoá và hệ quả trực tiếp của nó là sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế cũng nhƣ những vấn đề mang tính chất toàn cầu làm cho bất cứ một nƣớc nào dù mạnh đến đâu cũng trở nên bất lực trƣớc những thách thức lớn lao đòi hỏi sự hợp tác của tất cả các nƣớc, từ lớn đến vừa và nhỏ.

Xu thế khu vực hoá, đa phƣơng hoá, dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh đã thúc đẩy vai trò của các nƣớc vừa và nhỏ, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng. Đã qua rồi thời kỳ các nƣớc lớn có thể đơn phƣơng áp đặt ý chí và luật lệ của mình lên các quốc gia khác, bởi khi ngày càng nhiều vấn đề kinh tế, an ninh và chính trị đƣợc đƣa ra bàn bạc ở các diễn đàn đa phƣơng, các nƣớc vừa và nhỏ đều có quyền tham gia và có tiếng nói, dù ít hay nhiều, trong các vấn đề liên quan đến vận mệnh của mình. Chính ở đây, trong các diễn đàn đa phƣơng, các quốc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gia vừa và nhỏ, đặc biệt là khi cùng nói chung một tiếng nói, có thể có ảnh hƣởng không thể bỏ qua đối với các vấn đề khu vực cũng nhƣ quốc tế. Nếu nhƣ sự dính líu và xung đột của các nƣớc lớn là nhân tố quyết định trật tự khu vực Đông Nam Á thời kỳ chiến tranh lạnh và ASEAN đã không có cơ hội để có tiếng nói độc lập, thì giờ đây thực tế là ASEAN đã trở thành một thực thể chính trị có khả năng tham gia tạo dựng một trật tự khu vực mới.

ASEAN đã có vai trò đầu tàu trong các Diễn đàn PMC, ARF và ASEM. Các nƣớc lớn, cả Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Nga đều tìm kiếm sự hợp tác của ASEAN. Tầm quan trọng về địa chính trị cũng nhƣ địa kinh tế của một ASEAN mở rộng trong các vấn đề khu vực càng đƣợc nâng cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ