Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử Việt Nam với đề tài "Quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực ở Nghệ An và Hà Tĩnh thời kỳ Đổi mới (1986-2010)" do nghiên cứu sinh Võ Thị Hoài Thương thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vương Xuân Tình và NGƯT. Trần Văn Thức.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ẩm thực là đối tượng nghiên cứu liên ngành của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội như văn hóa học, dân tộc học, xã hội học, kinh tế học và sử học. Trong nghiên cứu lịch sử ẩm thực (Culinary/Food history), hoạt động ẩm thực phản ánh sự biến đổi về nguồn nguyên liệu, kỹ thuật chế biến, thị hiếu tiêu dùng và mạng lưới giao thương, qua đó thể hiện lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương và quốc gia.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận ẩm thực dưới góc độ dinh dưỡng, y sinh, phong tục tập quán hoặc văn hóa dân gian. Số lượng công trình tiếp cận ẩm thực từ nguồn tư liệu lịch sử hoặc xem xét mối quan hệ giữa đặc sản ẩm thực với sự phát triển kinh tế địa phương còn rất hạn chế. Nghệ An và Hà Tĩnh (vùng đất xứ Nghệ) là khu vực có truyền thống lịch sử lâu đời, điều kiện tự nhiên đa dạng và diện mạo ẩm thực phong phú của người Kinh cùng các dân tộc thiểu số như Thái, Thổ, Khơ-mú, Hmông, Ơ-đu, Đan Lai. Từ năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, hoạt động sản xuất và kinh doanh đặc sản ẩm thực tại hai tỉnh này phát triển mạnh mẽ, hình thành các làng nghề, đại lý và thương hiệu hàng hóa phục vụ thị trường trong nước và giao lưu khu vực. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực tại Nghệ An và Hà Tĩnh giai đoạn 1986-2010 dưới góc độ lịch sử và lịch sử kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực của người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ năm 1986 đến năm 2010.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu quá trình phát triển và biến đổi của việc sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực của Nghệ An và Hà Tĩnh trong thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2010, trong so sánh với thời kỳ trước năm 1986.
- Xem xét ảnh hưởng của việc sản xuất kinh doanh đặc sản ẩm thực với phát triển kinh tế - xã hội ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc giữ gìn, phát huy các giá trị đặc sản ẩm thực của người Việt ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ năm 1986 đến năm 2010; các vấn đề về chính sách, tổ chức thực hiện và thực tiễn sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực tại hai tỉnh.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực của dân tộc Kinh (người Việt), giới hạn ở những món ăn, đồ uống có giá trị kinh tế và văn hóa ở cấp độ vùng và quốc gia. Các sản phẩm khảo sát trọng tâm gồm: bưởi Phúc Trạch, cam Xã Đoài, cam Vinh, kẹo Cu đơ Cầu Phủ, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, nước mắm Vạn Phần và rượu Can Lộc.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh (trước năm 1991 là tỉnh Nghệ Tĩnh), tập trung vào các điểm sản xuất tiêu biểu như Cầu Phủ (thành phố Hà Tĩnh), huyện Hương Khê, huyện Nghi Lộc, vùng Phủ Quỳ, huyện Quỳnh Lưu, huyện Diễn Châu, thị xã Cửa Lò, huyện Nam Đàn, huyện Thanh Chương, huyện Can Lộc.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2010 (thời kỳ Đổi mới), có liên hệ so sánh với giai đoạn trước năm 1986.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:
Nghiên cứu lịch sử ẩm thực ở nước ngoài
- Lịch sử ẩm thực qua các thời kỳ: Giáo sư Massimo Montanari với công trình "Food is Culture (Arts and Traditions of the Table - Perspectives on Culinary History)" (2006) khám phá thực phẩm dưới góc nhìn văn hóa và dinh dưỡng học trong lịch sử; Paul H. Freedman nghiên cứu hương vị và nền văn minh ẩm thực; Maguelonne Toussaint-Samat với "A History of Food" (2009) tiếp cận lịch sử xã hội của việc ăn uống; B. Higman với "How Food Made History" (2012) phân tích vai trò của nông nghiệp và công nghệ chế biến trong lịch sử toàn cầu; Ken Albala với "Food: A Cultural Culinary History" (2013) nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ thực phẩm qua các thời kỳ; Mary Earle, Richard Earle và Allan Anderson (2001) với "Food Product Development" bàn về quản lý phát triển sản phẩm thực phẩm.
- Lịch sử chế biến món ăn và giao lưu ẩm thực: Kenneth F. Kiple và Kriemhild Coneè Ornelas (2000) biên soạn bộ "World History of Food"; Ghillie Basan (2006) trong "Vietnamese Food Cooking" giới thiệu ẩm thực truyền thống và sự lan tỏa của món ăn Việt Nam ra thế giới; Sidney C. Cheung và Tan Chee-Beng (2007) trong "Food and Foodways in Asia - Resource, Tradition and Cooking" phân tích thực phẩm lên men biển và ngành sản xuất nước mắm tại Việt Nam; Carole Counihan và Penny Van Esterik (2012) với "Food and Culture - A Reader" tiếp cận đa chiều về vai trò biểu tượng và kinh tế của thực phẩm.
- Lịch sử phát triển giao thương ẩm thực: Paule Moustier, Đào Thế Anh, Muriel Figuié (2003) với "Food Markets Agricultural Development Vietnam" phân tích sự biến đổi của thị trường nông sản Việt Nam giai đoạn 1991-2000; Richard Perren (2006) trong "Taste, Trade and Technology, The Development of the International Meat Industry since 1840" nghiên cứu thương mại thực phẩm quốc tế; Penny Van Esterik (2008) trong "Food Culture in Southeast Asia" tổng kết sự biến đổi và tiếp biến văn hóa ẩm thực Đông Nam Á dưới tác động thuộc địa và toàn cầu hóa.
Nghiên cứu lịch sử và văn hóa ẩm thực trong nước
- Tư liệu lịch sử truyền thống: Lê Quý Đôn trong "Vân đài loại ngữ" (thế kỷ XVIII), Bùi Dương Lịch trong "Nghệ An ký" (đầu thế kỷ XIX), và Quốc sử quán triều Nguyễn trong "Đại Nam nhất thống chí" đã ghi chép chi tiết về các sản vật, thổ sản ẩm thực của Nghệ An và Hà Tĩnh (như rươi, nếp Quạ, cam quýt, đậu nành, nước mắm Vạn Phần, chim cu núi, hải sản...).
- Kỹ thuật chế biến và nghiên cứu chuyên khảo: Đặng Thị Thân với "Sách Bánh Annam và bánh Tây" (1928), Đào Hùng với "Câu chuyện ẩm thực dưới góc nhìn lịch sử" (2012), Nguyễn Xuân Kính với nghiên cứu về ẩm thực người Việt giai đoạn 1884-1945; Băng Sơn, Mai Khôi, Vũ Bằng (2002) với bộ sách ba tập "Văn hóa ẩm thực Việt Nam"; Sông Lam Châu (2008) với "Sản vật Việt Nam"; Ngô Đức Thịnh với "Khám phá ẩm thực truyền thống Việt Nam"; Trần Quốc Vượng, Nguyễn Quang Lê, Phan Cẩm Thượng nghiên cứu về lễ hội, đồ gốm và văn minh vật chất của người Việt; Vương Xuân Tình nghiên cứu "Tập quán ăn uống của người Việt vùng Kinh Bắc"; Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh nghiên cứu folklore và văn hóa ẩm thực dân gian xứ Nghệ.
- Nghiên cứu về đặc sản cây, con tại Nghệ An - Hà Tĩnh: Các đề tài, bài báo khoa học của Hoàng Xuân Trường (2010), Nguyễn Văn Thu (2013), Thái Thị Hảo (2004), Lê Quang Hạnh (1994), Hồ Quang Đức (2011), Trương Thị Minh (2011), Vũ Thế Long (2011), Phạm Văn Chương (2009), Phan Thị Chữ (1996), Võ Tá Phong (2008) nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển các sản phẩm cụ thể như cam Xã Đoài, cam Vinh, cam bù Hương Sơn, bưởi Phúc Trạch, nước mắm.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung mô tả phong tục ăn uống, kỹ thuật chế biến dân gian, hoặc nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp thuần túy đối với từng giống cây trồng, vật nuôi riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, có hệ thống về quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực tại Nghệ An và Hà Tĩnh trong thời kỳ Đổi mới (1986-2010) theo hướng tiếp cận lịch sử kinh tế - xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung khái niệm và tiêu chí xác định đặc sản ẩm thực
Tác giả tổng hợp và làm rõ các khái niệm: ẩm thực, đặc sản, đặc sản ẩm thực, quá trình, sản xuất, kinh doanh dựa trên các từ điển chuẩn mực (Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, Việt Nam tự điển 1954, Từ điển bách khoa Việt Nam 2002). Theo tác giả, quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực là con đường hình thành, phát triển và chuyển biến của các sản phẩm ẩm thực đặc thù từ một vùng quê qua các giai đoạn lịch sử, nhằm mục đích sử dụng, biếu tặng hoặc trao đổi thương mại tạo lợi nhuận.
Để nhận diện và phân loại đặc sản ẩm thực Nghệ An và Hà Tĩnh, tác giả xây dựng bộ tiêu chí gồm ba nhóm chính:
- Tiêu chí giá trị: Gồm giá trị kinh tế, giá trị lịch sử và giá trị văn hóa; khả năng đóng góp vào phát triển du lịch, kinh tế địa phương; khả năng quảng bá hình ảnh quê hương (đánh giá theo ba mức độ A, B, C).
- Tiêu chí mức độ phổ biến: Cấp độ thế giới (loại A), cấp độ quốc gia (loại B), cấp độ tỉnh (loại C), cấp độ huyện (loại D).
- Tiêu chí sự ưa thích: Mức độ yêu thích của người tiêu dùng (A, B, C); tần suất sử dụng làm quà biếu/đãi khách (A, B, C); chất lượng sản phẩm (Rất ngon - A, Ngon - B, Bình thường - C).
Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích định lượng, luận án phân loại đặc sản ẩm thực thành 4 nhóm:
- Loại 1 (nổi trội ở cả 3 nhóm tiêu chí, đạt từ 5/6 tiêu chí loại A): Bưởi Phúc Trạch, cam Xã Đoài, cam bù Hương Sơn, kẹo Cu đơ Cầu Phủ.
- Loại 2 (đạt loại A và phần lớn loại B): Cam Vinh, cam Khe Mây, cam chanh, bún bò Đò Trai, cháo lươn Vinh, cá thu nướng Cửa Lò - Cửa Hội, hải sản sấy khô, mực nháy Cửa Lò, dê Hương Sơn, dê Cầu Đòn, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, chè Gay, rượu Can Lộc, cà pháo Nghi Lộc.
- Loại 3 (phần lớn tiêu chí đạt loại B): Gồm 24 sản phẩm như bưởi đường, bánh đa Đô Lương, bánh gai Dốc Dừa, cá mát sông Giăng, nước mắm Cửa Lò, nước mắm Vạn Phần, nước mắm Quỳnh Dỵ...
- Loại 4 (tiêu chí đạt loại C và D): Gồm 28 sản phẩm phổ biến ở cấp địa phương nhỏ như xoài Tương Dương, bánh đúc hến Sa Nam, cá rô Bàu Nón, rượu Nghi Ân...
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành sử học và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp tư liệu để làm rõ quá trình vận động khách quan của hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc sản qua từng giai đoạn.
- Phương pháp phân tích so sánh: So sánh đồng đại (giữa các sản phẩm, địa phương) và lịch đại (giữa thời kỳ trước Đổi mới và giai đoạn 1986-2010).
- Phương pháp liên ngành: Ứng dụng kiến thức của kinh tế học, dân tộc học, văn hóa học, địa lý học và dinh dưỡng học.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa:
- Điều tra bảng hỏi: Thực hiện khảo sát 200 phiếu điều tra trong giai đoạn 2009-2010 tại Nghệ An và Hà Tĩnh trên các nhóm đối tượng (người dân địa phương, cán bộ công chức, người nghỉ hưu, khách du lịch). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS.
- Phỏng vấn sâu: Ghi âm, ghi chép phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ gia đình sản xuất, kinh doanh lâu năm.
- Phỏng vấn và thảo luận nhóm: Tổ chức tọa đàm với các nhóm hộ sản xuất, kinh doanh nhằm đối chiếu, xác thực thông tin giữa số liệu hành chính nhà nước với thực tế điền dã.
- Phương pháp lịch sử truyền miệng (Oral History / Life History / Memory History): Khai thác ký ức của các nghệ nhân và người làm nghề truyền thống để bù đắp khoảng trống tư liệu thành văn.
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tư liệu lưu trữ nước ngoài và sách dịch về lịch sử ẩm thực thế giới.
- Châu bản triều Nguyễn, tài liệu tiếng Pháp của Phủ toàn quyền Đông Dương (Phông GGI, Phông AFC tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I).
- Các bộ chính sử phong kiến, sách địa chí, lịch sử Đảng bộ và lịch sử địa phương các cấp.
- Tài liệu hành chính địa phương: Quyết định, công văn, báo cáo của UBND tỉnh, huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
- Tư liệu điền dã thực địa: 200 phiếu khảo sát, băng ghi âm, biên bản tọa đàm, hình ảnh tư liệu khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu về lịch sử ẩm thực trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng nghiên cứu quốc tế đã xem thực phẩm là một phần của tiến trình lịch sử, gắn liền với nông nghiệp, thương mại và toàn cầu hóa. Tại Việt Nam, nghiên cứu ẩm thực đã đạt được nhiều kết quả về văn hóa dân gian và mô tả món ăn, nhưng tiếp cận lịch sử kinh tế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc sản tại Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn là một khoảng trống khoa học cần được giải quyết.
Chương 2: Định hướng nghiên cứu và việc sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực ở Nghệ An, Hà Tĩnh trước Đổi mới
Chương 2 trình bày khung lý thuyết, bộ tiêu chí và kết quả phân loại đặc sản ẩm thực, đồng thời phân tích các yếu tố tự nhiên, lịch sử, dân cư tác động đến ẩm thực xứ Nghệ:
- Điều kiện tự nhiên: Địa hình kéo dài từ Tây sang Đông gồm núi cao, trung du, đồng bằng và dải duyên hải; hệ thống sông Lam, sông La cùng các cửa sông (Cửa Cờn, Cửa Quèn, Cửa Thơi, Cửa Vạn, Cửa Hiền, Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng) cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú. Khí hậu khắc nghiệt, biên độ nhiệt lớn tôi luyện tính cách cần kiệm, thúc đẩy người dân sáng tạo các phương thức chế biến và bảo quản thực phẩm đặc trưng.
- Truyền thống lịch sử - dân cư: Dân số người Kinh chiếm 87,79% (năm 2005, mật độ dân số Nghệ An là 188 người/km², Hà Tĩnh là 215 người/km²). Các di chỉ khảo cổ học (Thẩm Ồm, Quỳnh Văn, Làng Vạc, Rú Dầu, Thạch Lạc) chứng minh truyền thống khai thác tài nguyên lâu đời. Thành phố Vinh giữ vai trò trung tâm kinh tế - thương mại thu hút và lan tỏa đặc sản ra cả nước.
- Thực trạng trước năm 1986: Sản xuất chủ yếu theo quy mô kinh tế hộ gia đình, tự cung tự cấp, hoặc chịu sự quản lý của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; mạng lưới kinh doanh nhỏ lẻ, tư liệu thành văn lưu trữ về giai đoạn này rất hạn chế.
| Nhóm đặc sản khảo sát (Tỷ lệ người dùng công nhận đặc sản từ 50% trở lên) |
Tỷ lệ đồng thuận (%) |
| Kẹo Cu đơ Cầu Phủ |
88,6% |
| Bưởi Phúc Trạch |
84,1% |
| Rượu nếp Can Lộc |
79,3% |
| Nhút Thanh Chương |
71,2% |
| Cam bù Hương Sơn |
67,2% |
| Tương Nam Đàn |
67,2% |
| Cam Xã Đoài |
59,6% |
| Thịt dê Hương Sơn |
58,5% |
| Cháo lươn Vinh |
52,4% |
| Nước mắm Cửa Hội |
50,7% |
| Mực nháy Cửa Lò |
50,0% |
Chương 3: Hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực ở Nghệ An và Hà Tĩnh (1986-2010)
Chương 3 phân tích thực trạng sản xuất và kinh doanh đặc sản qua hai giai đoạn lịch sử của thời kỳ Đổi mới:
- Giai đoạn 1986-2000: Chuyển từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cơ sở sản xuất cá thể, hộ gia đình từng bước khôi phục nghề truyền thống. Hoạt động kinh doanh mở rộng dọc theo các trục giao thông quốc lộ, bến xe, ga tàu và chợ đầu mối (chợ Vinh).
- Giai đoạn 2001-2010: Sản xuất và kinh doanh bước vào giai đoạn phát triển chiều sâu. Quy mô sản xuất mở rộng thành các vùng chuyên canh cây ăn quả (cam Vinh, bưởi Phúc Trạch) và làng nghề truyền thống (nước mắm Vạn Phần, kẹo Cu đơ Hà Tĩnh, tương Nam Đàn). Khoa học công nghệ được ứng dụng trong phục tráng giống cây trồng và cải tiến kỹ thuật chế biến. Nhà nước và chính quyền địa phương triển khai các chương trình hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu tập thể và chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường tiêu thụ gắn với du lịch và xuất khẩu.
Chương 4: Tác động của sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực đến phát triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An và Hà Tĩnh (1986-2010)
Chương 4 đánh giá toàn diện các tác động của hoạt động này:
- Tác động kinh tế và cơ cấu xã hội: Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn; tạo việc làm tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu lao động từ thuần nông sang chế biến và dịch vụ thương mại; nâng cao thu nhập, giúp nhiều hộ nông dân thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
- Tác động văn hóa: Bảo tồn tri thức dân gian truyền thống, khẳng định bản sắc địa phương của vùng đất xứ Nghệ và đóng góp vào kho tàng văn hóa ẩm thực quốc gia.
- Bảo tồn và phát huy giá trị: Phân tích các giải pháp quy hoạch vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển thương hiệu gắn với chuỗi giá trị và du lịch sinh thái, văn hóa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quá trình sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực ở Nghệ An và Hà Tĩnh giai đoạn 1986-2010 dưới góc độ lịch sử và lịch sử kinh tế.
- Đặt nền móng cho việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử ẩm thực tại Việt Nam, kết hợp phương pháp sử học truyền thống với phương pháp điều tra xã hội học định lượng (xử lý phần mềm SPSS), lịch sử truyền miệng và nghiên cứu liên ngành.
- Xây dựng thành công khung tiêu chí khoa học (giá trị, mức độ phổ biến, sự ưa thích) để xác định, phân loại các cấp độ đặc sản ẩm thực vùng miền.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống dữ liệu thực chứng cho các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế địa phương, bảo tồn làng nghề truyền thống và phát triển các sản phẩm đặc trưng.
- Đề xuất các giải pháp thực tế về quản lý chất lượng, đăng ký sở hữu trí tuệ, quảng bá thương hiệu gắn với phát triển du lịch.
- Bổ sung nguồn tư liệu thực địa và lịch sử kinh tế phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử, Lịch sử Việt Nam, Việt Nam học, Văn hóa học và Du lịch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tài liệu thành văn lưu trữ tại địa phương về hoạt động sản xuất, kinh doanh tiểu thủ công nghiệp và ẩm thực giai đoạn trước năm 1986 (đặc biệt giai đoạn 1945-1986) bị thất lạc nhiều và không liên tục, gây khó khăn cho việc phục dựng số liệu kinh tế trước Đổi mới. Luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu đặc sản ẩm thực của người Kinh, chưa khảo sát toàn diện ẩm thực của các dân tộc thiểu số khác trên địa bàn hai tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hoạt động sản xuất, chế biến đặc sản ẩm thực của các cộng đồng dân tộc thiểu số (Thái, Thổ, Khơ-mú, Hmông...) ở miền Tây Nghệ An và Hà Tĩnh; tiếp tục theo dõi sự biến đổi của chuỗi cung ứng đặc sản ẩm thực trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng sau năm 2010.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử kinh tế, Văn hóa học, Việt Nam học, Dân tộc học và Du lịch.
- Giảng viên đại học, cao đẳng sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần lịch sử địa phương và văn hóa ẩm thực.
- Cán bộ quản lý tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Du lịch của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh Bắc Trung Bộ.
- Nội dung giá trị: Khung tiêu chí phân loại đặc sản, phương pháp xử lý số liệu điều tra xã hội học bằng SPSS trong nghiên cứu lịch sử, hệ thống 17 phụ lục khảo sát thực địa chi tiết về quy trình chế biến truyền thống (nước mắm Vạn Phần, kẹo Cu đơ, bưởi Phúc Trạch, cam Vinh...).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào những tiêu chí nào để xác định và phân loại đặc sản ẩm thực ở Nghệ An và Hà Tĩnh?
Luận án căn cứ vào ba nhóm tiêu chí chính: (1) Tiêu chí giá trị (giá trị kinh tế, lịch sử, văn hóa; đóng góp phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh địa phương theo các mức A, B, C); (2) Tiêu chí mức độ phổ biến (cấp thế giới - A, cấp quốc gia - B, cấp tỉnh - C, cấp huyện - D); (3) Tiêu chí sự ưa thích (mức độ yêu thích, tần suất dùng làm quà biếu/đãi khách và đánh giá độ ngon của sản phẩm).
2. Những sản phẩm ẩm thực nào đạt tỷ lệ đồng thuận cao nhất trong cuộc điều tra 200 phiếu khảo sát?
Theo kết quả điều tra điền dã và xử lý số liệu bằng SPSS của tác giả, các sản phẩm đạt tỷ lệ công nhận đặc sản ẩm thực cao nhất gồm: kẹo Cu đơ Cầu Phủ (88,6%), bưởi Phúc Trạch (84,1%), rượu nếp Can Lộc (79,3%), nhút Thanh Chương (71,2%), cam bù Hương Sơn (67,2%), tương Nam Đàn (67,2%), cam Xã Đoài (59,6%), thịt dê Hương Sơn (58,5%), cháo lươn Vinh (52,4%), nước mắm Cửa Hội (50,7%) và mực nháy Cửa Lò (50,0%).
3. Tác giả đã giải quyết khó khăn về việc thiếu hụt tư liệu giai đoạn trước năm 1986 bằng cách nào?
Để bù đắp sự thiếu hụt và không liên tục của tài liệu hành chính thành văn giai đoạn 1945-1986, tác giả đã ứng dụng các phương pháp lịch sử truyền miệng (Oral History), lịch sử cuộc đời (Life History), phỏng vấn sâu các nghệ nhân, chủ hộ sản xuất lâu năm và tổ chức các cuộc tọa đàm nhóm để xác thực, đối chiếu dữ liệu thực địa.
4. Quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực Nghệ - Tĩnh giai đoạn 1986-2010 được chia thành các mốc nào?
Quá trình này được phân thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1986-2000 (bước đầu chuyển đổi cơ chế, khôi phục sản xuất hộ gia đình, kinh doanh phân tán dọc các trục giao thông và chợ truyền thống) và Giai đoạn 2001-2010 (phát triển chuyên canh quy mô lớn, hình thành làng nghề, ứng dụng khoa học kỹ thuật, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và phát triển kênh phân phối gắn với du lịch).
5. Luận án lựa chọn những đặc sản cụ thể nào làm đối tượng khảo sát trọng tâm?
Luận án tập trung khảo sát 8 đặc sản đại diện: Bưởi Phúc Trạch, cam Xã Đoài, cam Vinh, kẹo Cu đơ Cầu Phủ, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, nước mắm Vạn Phần và rượu Can Lộc.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Thị Hoài Thương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử kinh tế - xã hội đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc sản ẩm thực tại Nghệ An và Hà Tĩnh trong thời kỳ Đổi mới (1986-2010). Bằng việc kết hợp phương pháp sử học với điều tra xã hội học và lịch sử truyền miệng, luận án đã tái hiện bức tranh phát triển của các đặc sản ẩm thực xứ Nghệ từ quy mô sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và du lịch. Công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, phát triển kinh tế địa phương và bảo tồn các giá trị di sản văn hóa ẩm thực.