Chương 1: Cơ sở lý thuyết của luận văn Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc của thành ngữ Hán – Việt có yếu tố chỉ ẩm thực Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Hán – Việt có yếu tố chỉ ẩm thực 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm thành ngữ Trong cuộc sống hàng ngày, hầu như chúng ta có thể nêu ra rất nhiều thành ngữ một cách dễ dàng, ví dụ: ăn cháo đá bát, bảy nổi ba chìm trong tiếng Việt, “口蜜腹剑”, “两面三刀” v. Trước khi thực hiện đề tài với chủ đề là đối chiếu thành ngữ Hán – Việt có yếu tố chỉ ẩm thực, việc đầu tiên là làm rõ về khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt.1 Khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán Từ xưa đến nay, về khái niệm thành ngữ của tiếng Hán, các nhà nghiên cứu thảo luận từ góc độ khác nhau, về mặt cơ bản, họ có một số nhận thức tương tự. Từ điển tiếng Hán hiện đại (2012) định nghĩa thành ngữ như sau: những cụm từ cố định hoặc câu ngắn ngắn gọn, thấu đáo và được người ta sử dụng từ lâu.
Thành ngữ tiếng Hán phần lớn được cấu thành bởi bốn chữ, có nguồn gốc. [34, tr166] Cuốn Danh từ ngôn ngữ học (2011) định nghĩa và giải thích thành ngữ như sau: cụm từ cố định mang phong cách văn bản và được sử dụng từ lâu. Có tính chỉnh thể về mặt nghĩa và tính cố định về mặt cấu trúc, nghĩa của nó thường không phải là sự kết hợp một cách đơn giản của các thành phần của nó, mà là nghĩa chỉnh thể được khái quát trên cơ sở các thành phần cấu tạo của nó; thành phần cấu tạo và hình thức cấu trúc là cố định, không thể thay đổi, thay thế, tăng giảm các thành phần. Nguồn gốc của thành ngữ thông thường là từ thần thoại ngụ ngôn, câu chuyện lịch sử, bài văn, thi ca và khẩu ngữ.[51, tr90] 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các nhà ngôn ngữ học cũng có một số định nghĩa đáng chú ý, Ma guofan (1978) trong cuốn《成语》(Thành ngữ) viết rằng: “ thành ngữ là cụm từ cố định được người ta sử dụng từ lâu và có tính dân độc.”[41, tr39] Shi shi (1979) trong cuốn《汉语成语研究》(Nghiên cứu Hán ngữ thành ngữ) định nghĩa thành ngữ như sau: “thành ngữ được sử dụng từ lâu trong ngôn ngữ và do ước định mà thành, thông thường có cấu trúc và thành phần cố định, có nghĩa nhất định nào đó, không thể nhìn chữ đoán nghĩa, chức năng trong câu đương tương một cụm từ cố định và câu ngắn.
”[45, tr12] Liu jiexiu (1985) trong sách 《成语》(Thành ngữ) có định nghĩa sau: “cụm từ cố định hoặc câu ngắn có hình thức cố định, với hình thức ngắn gọn và nghĩa sâu sắc, được người ta sử dụng từ lâu.”[38, tr3] Mo Pengling (2001) trong sách 《汉语成语与汉文化》(Thành ngữ tiếng Hán và văn hoá Hán) có quan niệm rằng thành ngữ là một loại cụm từ cố định có phong cách văn bản và được sử dụng từ lâu.[42, tr1] Cuốn giáo trình 《现代汉语》 (Tiếng hán hiện đại) (2002) nhấn mạnh rằng thành ngữ là cụm từ cố định có phong cách văn bản và được sử dụng từ lâu. [57] Tóm lại các quan điểm trên đây, chúng ta được biết, phần lớn tác giả coi thành ngữ là một loại cụm từ cố định hoặc câu ngắn, thành ngữ tiếng Hán phần lớn là bốn chữ. Và thành ngữ được sử dụng từ lâu, có thành phần và cấu trúc cố định, nghĩa của thành ngữ rất sâu sắc và không thể đoán từ mặt chữ.2 Khái niệm thành ngữ trong tiếng Việt Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng phê chủ biên có khái niệm về thành ngữ như sau: “tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên.” Về khái niệm về thành ngữ, các nhà Việt ngữ học cũng có rất nhiều phát biểu 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đáng kể. [18, tr1203] Tác giả Hồ lê (1976) có quan điểm: “Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từ hợp lại), có tính vững chắc về cấu tạo và bóng bẩy về ý nghĩa, dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách, một trạng thái.” [16, tr97] Nguyễn Văn Tú trong công trình Tiếng việt và vốn từ tiếng Việt hiện đại viết rằng: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp thành một khối hoàn chỉnh vững chắc.
Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố tạo ra. Những thành ngữ này có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có.”[24, tr181] Cù đinh tú (1973) có nhận diện về thành ngữ như sau: “Thành ngữ là tổ hợp từ cố định có chức năng gọi tên sự vật, tính chất, hành động; có nội dung hàm sức và hình thức đẹp đẽ.” [22, tr274] Tác giả Nguyễn công đức (1995) có định nghĩa rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định, là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng, có chức năng định danh, tức gọi tên cho sựu vật và phản ánh khái niệm một cách gợi tả và bóng bẩy; có hiệu nang trong giao tiếp và là đơn vị ngôn ngữ văn hoá.” [4, tr23] Tác giả Nguyễn thiện giáp (1998) định nghĩa như sau: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có giá trị gợi tả. Tính hình tượng là đặc trưng cơ bản của thành ngữ. Thành ngữ biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.” [7, tr77] Hoàng văn hành (2008) có quan điểm như sau: Thành ngữ là những tổ hợp từ cố định, định danh cho sự vật, hiện tượng, quá trình.
biểu thị khái niệm bằng hình ảnh biểu trưng và có hai tầng ngữ nghĩa được tạo bằng phương thức so sánh và ẩm dụ hoá. [11, tr38] Tóm lại các quan điểm chính trên đây, chúng tôi có nhận định rằng: thành ngữ tiếng Việt là một loại cụm từ cố định, về mặt hình thức, chúng có cấu trúc chặt chẽ và ổn định; về mặt nghĩa, chúng có tính hoàn chỉnh và có tính gợi 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảm, chúng cũng bóng bẩy về ý nghĩa. Về mặt chức năng, chúng có chức năng định danh.3 Sự khác biệt và sự giống nhau về khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt Thông qua những quan điểm trên của các nhà nghiên cứu của hai nước, chúng tôi tóm lại những điểm giống nhau và những điểm khác nhau về khái niệm tiếng Hán và tiếng Việt như sau: a) Phần lớn các tác giả đều cho rằng thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt là thuộc về cụm từ cố định, chỉ một số quan điểm cho rằng thành ngữ tiếng Hán có thể là câu ngắn. b) Về mặt ý nghĩa, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt thường có nghĩa bóng, nhiều khi không thể chỉ dựa vào các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ mà đoán nghĩa.
c) Về mặt hình thái – cấu trúc, thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Việt đều rất ổn định và chặt chẽ. d) Thành ngữ tiếng Hán có phong cách văn bản, còn thành ngữ tiếng Việt thì phần lớn có phong cách khẩu ngữ. e) Thành ngữ tiếng Hán với bốn chữ chiếm số lượng áp đảo (hơn 90%), trong khi thành ngữ tiếng Việt có bốn âm tiết thì có tỷ lệ thấp hơn.2 Nhận diện thành ngữ Thành ngữ và các đơn vị khác như tục ngữ, quán ngữ, cụm từ cố định v. thường có một số đặc trưng tương tự.
Để xem xét đặc trưng của thành ngữ trong hai ngôn ngữ, chúng tôi sẽ xác nhận ranh giới giữa thành ngữ và các loại đơn vị khác như tục ngữ, quán ngữ v.1 Nhận diện thành ngữ tiếng Hán 1.1 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ trong tiếng Hán 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm của tục ngữ (俗语) trong tiếng Hán nếu hiểu theo nghĩa rộng, theo Ma Guofan (1985), nó bao gồm ngạn ngữ (谚语) và câu nói bỏ lửng/yết hậu ngữ (歇后语). Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm tục ngữ đương tương với ngạn ngữ. Cuốn danh từ ngôn ngư học (2011) định nghĩa ngạn ngữ như sau: những câu cố định có nghĩa sâu sắc và thông tục ngắn gọn được lưu truyền qua miệng.[51, tr91] Theo Liu shuxin (2002), tục ngữ là những câu có sẵn hài hước, sinh động, ngữ nghĩa mang tính nhắc nhở, có nguồn góc từ dân gian và được thịnh hành trong dân gian.[39] Để thuận tiện cho việc phân biệt tục ngữ và thành ngữ, chúng tôi sẽ hiểu tục ngữ theo nghĩa hẹp như trong cuốn từ điển tiếng Hán hiện đại: tục ngữ là những câu có hình thức cố định được thịnh hành trong phạm vi rộng, vừa ngắn gọn vừa có tính chất hình tượng, được sáng tạo bởi đa số nhân dân lao động, phản ánh sự mong muốn và kinh nghiệm trong cuộc sống.[34, tr1240] Ví dụ, “隔行如隔山” (Khác nghề như cách núi, hình dung sự khác biệt lớn giữa cách nghề khác nhau) Dựa vào khái niệm về tục ngữ trên đây, thành ngữ và tục ngữ có nhiều điểm tương tự, chúng đều là những đơn vị có sẵn và cố định, là tinh hoa trí tuệ của dân tộc. Sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ cũng khá là rõ rẹt: a) Về mặt hình thức, phần lớn thành ngữ là cụm từ cố định, đương tương với một từ trong câu, tục ngữ thì là câu có sẵn.
b) Về mặt phong cách, thành ngữ trong tiếng Hán mang phong cách văn bản, tục ngữ thì mang phong cách khẩu ngữ. c) Về mặt ngữ nghĩa, tục ngữ thường là một số kinh nghiệm cuộc sống hoặc lời khuyên của dân, thành ngữ thì phần lớn là phản ánh một quan niệm nào đó, hoặc miêu tả một trạng thái nào đó. d) Về mặt tính cố định thì thành ngữ có tính cố định cao hơn tục ngữ. Trong 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quá trình sử dụng, thay thế hoặc vứt bỏ một thành phần nào đó của tục ngữ thì không ảnh hưởng nhiều về ý nghĩa, trong khi thành ngữ thì không được làm như vậy.
e) Về mặt nguồn gốc, thành ngữ có nguồn gốc từ các tác phẩm văn học, các thần thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, câu chuyện lịch sử và ngoại lai. Tục ngữ thì chủ yếu có nguồn gốc từ quần chúng nhân dân. Trên thực tế, có một số trường hợp thành ngữ và tục ngữ trong tiếng Trung có chuyển hoá lẫn nhau. Ví dụ “近朱者赤,近墨者黑” (gần mực thì đen, gần đen thì sáng) hồi xưa là một tục ngữ, nhưng hiện nay nó lại là một thành ngữ.