CHƯƠNG 1 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO CÔNG GIÁO Ở TỈNH KON TUMTỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2021 1. Tổng quan về tỉnh Kon Tum 1. Điều kiện tự nhiên Về vị trí địa lý, Kon Tum là một tỉnh nằm ở cực bắc Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên là 9.676,5 km2chiếm 3,1% diện tích toàn quốc; phần lớn là rừng núi và cao nguyên, địa hình hiểm trở, vùng cao đất, dốc, đồi núi bị chia cắt mạnh. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam giáp tỉnh Gia Lai; phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía tây giáp tỉnh Ătêp, Sê Kông (Lào); phía đông bắc giáp tỉnh Ratanakili (Campuchia).
Tỉnh Kon Tum có khoảng 650 km đường ranh giới, trong đó đường biên giới quốc gia chiếm 280,7 km. Nằm trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, nơi có điểm tựa của ngã ba Đông Dương, gắn chặt với các đặc trưng về địa lý, tự nhiên tạo cho tỉnh Kon Tum có tầm quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Địa hình: phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây. Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau.
Trong đó: Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên. Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) - nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc. Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum. Ngoài ra, Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọn Bon San (1.939 m); ngọn Ngọc Kring (2.Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối.
Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray. Địa hình thung lũng: nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh, có dạng lòng máng thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thành phố Kon Tum. Thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. 8 Địa hình cao nguyên: tỉnh Kon Tum có cao nguyên Kon Plông nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Về khí hậu, Kon Tum thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa chủ yếu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau với hướng gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc dễ xảy ra cháy rừng. Hàng năm, lượng mưa trung bình khoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8. Mùa khô, gió chủ yếu theo hướng đông bắc; mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng Tây Nam. Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87%.
Độ ẩm không khí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3 (khoảng 66%). Về sông ngòi, chủ yếu là các sông suối bắt nguồn từ phía Bắc của tỉnh Kon Tum thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết bao gồm các hệ thống đầu nguồn sông Ba và hệ thống sống Sê San. Hệ thống sông Sê San bao gồm các con sông Đăk Bla (thị xã Kon Tum) và sông Pô Cô (dài 320 km với nhiều con suối lớn, tạo thuận lợi cho việc thiết lập các công trình thủy điện và thủy lợi phục vụ cho sản xuất và phát triển kinh tế). Về đất đai và rừng, tỉnh có tổng diện tích 966.100 ha đất đai, trong đó nông nghiệp là 155.262 ha, đất lâm nghiệp 616.054 ha, đất chuyên dùng 5.
Diện tích rừng tự nhiên của Kon Tum còn khoảng 616.054 ha với độ che phủ 61% (bao gồm: rừng sản xuất 324.856 ha, rừng phòng hộ 290.766 ha, rừng đặc dụng 432 ha); với các kiểu rừng chính như rừng cây lá kim, rừng lá nhiệt đới hỗn hợp cây lá rộng, rừng lá ẩm nhiệt đới cho thảm thực vật và động vật ở đây phong phú và đa dạng. - Thực vật: theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4 họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi, 6 họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ. Trong đó, các họ nhiều nhất là họ đậu, họ dầu, họ long não, họ thầu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột, họ xoan và họ trám.
Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khác nhau: 600 m trở xuống, 600 - 1. Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua,.800 m chủ yếu là thông ba lá, chua, dẻ, re, kháo, chẹc,. Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh với những cây dược liệu 9 quý như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế. Trong những năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khai thác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng.
Nhưng nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh có nhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao. - Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên. Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng,.Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam Kon Tum (huyện Sa Thầy). Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô; bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus.
Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy, Đăk Tô, Kon Plông đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này. Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói. Kon Tum với vị trí mệnh danh là mái nhà Đông Dương, tuy có địa hình hiểm trở, song lại giàu tiềm năng kinh tế. Đồng thời, Kon Tum là địa bàn có vị thế chiến lược về an ninh biên giới, một trọng điểm mà các thế lực thù địch đã và đang âm mưu thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” thông qua vấn đề dân tộc và tôn giáo.
Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội Tỉnh Kon Tum có 6 huyện và một thị xã với 79 xã, phường, thị trấn; trong đó có 56 xã, phường có đạo. Số dân khoảng hơn 300. Theo dấu tích di chỉ khảo cổ học, những yếu tố văn hóa cổ xa còn lại trong lòng đất và đời sống của cư dân, các nhà khoa học đều xác định rằng ở Tây Nguyên từ ngàn xa đã có người nguyên thủy sinh sống. Lớp cư dân bản địa đầu tiên giả định là giống người tóc quăn, vóc dáng lùn, da đen thuộc chủng tộc Ôxtraoit, đến nay chỉ còn lại những vết tích nhân chủng ở cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa hiện đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Kon Tum, gồm: Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Gia Rai, Brâu, Rơ Mâm.
Dân tộc Xơ Đăng có các nhóm địa phương gồm: Xơ teng (H'đang), Tơdră, Rơ Mâm, Hà lăng, Cà dong, Châu, Ta trẻ; dân số trên 67.369 ngời (chiếm 25,2% dân số toàn tỉnh), có mặt hầu hết khắp các huyện, thị trong tỉnh. Dân tộc Ba Na có các nhóm khác nhau như: Gơlar, Tôlô, Giơlãng, Rơngao, Kram, Roh, Con kđê, Klacông, Kpăngcông, Bơnâm; dân số trên 30.863 ngời (chiếm 11,5% dân số trong tỉnh), sống tập trung chủ yếu ở thị xã Kon Tum và huyện Konplong. 10 Dân tộc Giẻ Triêng cũng có nhiều nhóm địa phương như: Đgích, Tareh, Giang grẩy, Triêng, Tren, Tarieng, Ve, Lave, Catang cư trú chủ yếu ở huyện Đăkglei và phía bắc huyên Ngọc Hồi (cũng có một bộ phận nhỏ sống ở Lào), dân số hiện nay có khoảng 22. Dân tộc Gia Rai với nhiều nhóm địa phương như: Gơ rai, Tơ bua, Chơ rai, Hơ ban, H'drung, Chor, A rap.
cư trú chủ yếu ở huyện Sa Thầy và thị xã Kon Tum; dân số trên 13. Dân tộc Brâu, Rơ Mâm là hai dân tộc có dân số ít, Brâu: 240 ngời, Rơ Mâm: 277 người. Hiên nay người Rơ Mâm định cư ở làng Le xã Mô Rây huyện Sa Thầy; người Brâu định c ở làng Đăk Mề, xã Bờ Y, huyên Ngọc Hổi.Đây là hai dân tộc đang có nguy cơ tuyệt chủng, cần đến sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng xã hội. Dân tộc Kinh là thành phần dân cư lên cư trú tại Kon Tum vào khoảng giữa thế kỷ 19, lập nên các làng: Phương Nghĩa (1882), Phương Qúy (1887), Phương Hòa (1892), Trung Lương (1914), Phụng Sơn (1924), Ngô Thạnh (1925), Ngô Trang (1925), Phước Cần (1927), Lương Khế (1927).
Đến nay, theo thống kê, người Kinh chiếm gần 46% dân số so với các dân tộc khác trong tỉnh. Họ cư trú hầu hết ở thị xã, thị trấn, ven các trục đường giao thông, các khu vực nông trường, kinh tế mới. Nhìn chung các dân tộc ở Kon Tum có mối quan hệ đoàn kết gắn bó, có tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước trước đây và cho sự nghiêp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhiều làng, xã là căn cứ cách mạng từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Kon Tum cũng là nơi có nhiều cán bộ, trí thức, anh hùng rất nổi tiếng là người dân tộc thiểu số. Do điều kiện địa lý tự nhiên, địa bàn cư trú nên vùng dân tộc thiểu số mang những nét riêng của miền núi và Tây Nguyên.