CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH LAP QUOC CUA VUONG QUOC AYUTTHAYA VAO THE KI XIV.Quá trình di cư về phía Nam và sự hình thành các vương quốc đầu tiên của người Thái. Nguồn gốc của người Thái. Đông Nam A cô đại là một khu vực địa lý rộng lớn. Về mặt địa ly, Đông Nam A (tiếng Anh: Southeast, South East, South - East) là một khu vực nằm ở phía đông nam lục dia A - Âu.
Trong vòng đai nóng của địa cau, trải dai trên một phan Trái Dat trong vòng dai nóng của địa cau, từ khoảng 92° kinh độ Đông đến 140° kinh độ Đông và từ khoảng 28° vĩ độ Bắc, chạy qua xích đạo đến 15° vĩ độ Nam. Cực đông và cực nam là nước Indonesia; cực tây và cực bắc là nước Miễn Điện. Phía bắc của Đông Nam Á giáp Trung Quốc, phía tây giáp Án Độ, phía nam giáp Australia và phía đông giáp biển. Tuy đã hiện diện từ rat lâu nhưng phải tới đầu Chiến tranh thé giới thứ hai, Đông Nam Á mới chính thức được biết đến như một khu vực địa lý quan trọng.
Lãnh thé Đông Nam A được chia làm hai bộ phận gồm Đông Nam Á lục địa (Bán đảo Trung - Án) và Đông Nam Á hải đảo (các đảo quốc và quốc gia quần đảo trên biên Đông). Khu vực Đông Nam Á lục địa nhìn từ góc độ văn hóa - tộc người, có thê được xác định gém những quốc gia và những vùng sau: Thái Lan, Lào, Miễn Điện, Chân Lap, Việt Nam, Malaysia (phần lục địa), Tây Nam Trung Quốc (Vân Nam, Lưỡng Quảng) và vùng rừng núi phía Đông của Cộng hòa An Độ và Bănglađét (Nguyễn Văn Kim, 2007, tr. Từ khoảng dau công nguyên đến thé ki VII, hang loạt các quốc gia so ki Đông Nam Á đã được hình thành và phát triển ở khu vực phía Nam của Đông Nam Á lục địa. Chính giai đoạn này, người Thái đã xuất hiện và dé lại nhiều dau an lớn đôi với lịch sử của Đông Nam Á lục địa.
Người Thai von có nguồn gốc ở phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc. Họ bắt dau di cư về phía nam theo từng đợt liên tiếp, có lẽ sớm nhất là vào năm 1050 sau Công Nguyên. Khu vực sinh sống của người Thái thường phân bố ở các vùng thung lũng đọc theo các con sông lớn từ Nam sông Dương Tử đến Mékong, Ménam, Iraoady, sông Hong, trong khu vực Bắc Đông Dương tạo thành một “vanh dai” không 16 kéo dài từ phía Đông đến phía Tây Assam của An Độ (Lường Hoài Thanh, 2015, tr.25) Năm 1967, trong công trình Lich sử Lào của tác giả M-L. Mannich Jumsai đã dành han một chương cho việc tim hiéu vẻ lich sử khởi nguồn của người Thái.
Người 6 ta nghĩ rằng, quê hương đầu tiên của người Thái là ở vùng núi Altai. Lúc đó họ chưa được gọi bang cái tên này. Họ dan dan di chuyên về phía Nam lưu vực sông Hoang Ha và sau đó la sông Trường Giang. Lúc đó là khoảng 5000 năm TCN.
Lich sử của người Thái trước khi họ đến Vân Nam ở phía Nam Trung Quốc thì rất mơ hồ và họ được cho là đã hình thanh hai vương quốc ở phía Bắc của tinh Tử Xuyên gọi là vương quốc của Lung (bác) và vương quốc của Pa (chú). Người Hán tràn xuống và tan công họ lan nữa và chỗ họ đền tiếp theo la Ngiou. Ngiou được thành lập vào năm 212 TCN. Điểm định cư tiếp theo là Pegnai — trung tâm Nam Chiều sau này.
Người Thái lúc này được gọi chung là Ngai lao (Ailao). (Manich Jumsai, 1967, tr. Theo David Wyatt, trong cuốn Thailand: A short history (Thái Lan: Lịch sử Tóm lược) ông nói rằng: Người Thái xuất xử từ phía nam Trung Quốc, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tay, Nùng. Dưới sức ép của người Hán va người Việt ở phía bắc vả phía đông, người Thái dan di cư vẻ phía nam và tây nam.
Người Thái di cự đến Việt Nam trong thời gian từ thé ki VII đến thé ki XIIL Trung tâm của họ khi đỏ là Điện Biên Phủ (Mường Thanh). họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Á cùng một lúc bấy giờ như Lào, Thái Lan, bang Shan ở Miễn Điện và một số vùng ở đông bắc An Độ cũng như nam Van Nam. Tác giả Rong Syamananda trong cuốn Lịch sử Thai Lan cũng đã tong hợp ý kiến của nhiều học giả và khang định “Ngudi Thái sinh sống ở vùng Tây Bắc của Tứ Xuyên từ hơn 4000 năm TCN; sau đó họ bắt đầu di cư đọc theo sông Dương Tử dé tìm kiểm cuộc sống tốt hơn. Khi tiếp xúc với người Trung Quốc, họ đã có một cuộc chạy đua tuyệt vời, nhưng họ không đoàn kết với nhau thành một quốc gia.
Họ được chia thành các bộ lạc hoặc nhóm có các hoàng tử hoặc các thủ lĩnh đứng đầu. Họ đã tự gọi mình bằng các tên riêng như Mung, Lung, Pa nhưng người Thái tự gọi mình là Ailao. Khoảng năm 936 TCN, người Tartar đã bắt đầu xâm nhập vào phía Tây Trung Quốc và sớm quấy nhiễu vương quốc của Lung. Không thẻ chống lại áp lực của người Tartar, người Thái tại vương quốc Lung đã di chuyển ve phía Tứ Xuyên, nơi họ sáp nhập với một nhóm Thái của vương quốc Pa lập nên một vương quốc mới là Ngiou” (Lường Hoài Thanh, 2020) Theo Tiến si Leedom Leffert cho rằng quá trình thiên di của người Thái theo lưu vực sông Mê Kông bat dau từ thiên niên ki thứ nhất trước Công nguyên.
Một bộ phận của tô tiên khối cộng đồng Tay - Thái cô. bắt nguồn từ nhóm Bách Việt sinh tụ ở miền Nam sông Dương Từ tách dần khỏi khôi cộng đồng cùng tộc của mình, thiên di theo hướng Tây - Nam vào miền Nam tinh Vân Nam và miền Tây Đông Dương, trong đó có vùng Tây Bắc Việt Nam. (Hoàng Lương, 2015, tr.1) Cùng lúc đó, người Thái cũng gặp cuộc thiên di của nhóm tô tiên các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khome tử Trung A và Tây Bắc Trung Quốc tràn vẻ. Vùng phía Nam tính Vân Nam, thượng Miễn Điện, Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam từ thời Đường hay từ đời Tan - Han là địa bàn cư trú của tô tiên người Thái sông xen kẽ với các dân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khome va ngôn ngữ Tạng - Miến.
Trong khi cư dan ngôn ngữ Tạng — Miền sinh sống ở vùng Tây và Tây Bắc thì cư dan Thái phân bố ở Nam và Đông Nam Châu A cùng cộng cư với cư din nói tiếng Môn - Khmer. Theo ý kiến trên, lịch sử Thái đã dién ra hai cuộc thiên đi lớn theo hướng Tây Nam và hướng Nam vào cuối thé ki thứ nhất trước Công nguyên và những thé ki đầu của thiên niên ki I, đầu thiên niên ki II sau Công nguyên. Tuy nhiên, quá trình thiên di này đã diễn ra hàng trăm năm vì vấp phải sự chống trả của những tộc người địa phương khi người Thái tràn đến chiếm những vùng dat đó đẻ sinh sống. Trong thực tế, địa bàn phân bố của các nhóm Thái này được xác định cụ thê hơn ở thời cô đại với 5 vùng như: Xíp xong Bản na (Trung Quốc), Chiéng Tung (Miễn Điện), Lan Na (Thái Lan), Lạn Xạng (Lào) và Xíp bốc châu tay (Mười sáu châu Thái Việt Nam).
Các vùng này có môi quan hệ khá gần gũi nhau, ít nhiều có sự ảnh hưởng lẫn nhau về nhiều mặt. O Việt Nam, các công trình nghiên cứu của các tác giả La Văn Lô, Dang Nghiêm Van, Cam Trọng. cũng đều khang định quê hương tô tiên của người Thái ớ vùng Vân Nam và Mường Theng. Quê hương đầu tiên của người Thái, Lào và người Lự trước khi di cư vào Dông Dương là ở miền “chín con sông gặp nhau” tức là miễn các con sông Hong (Nam Tao), sông Da (Nim Tè), sông Ma (Nam Ma), sông Mekong (Nam Khoong), sông Nam Na, Nim U va ba con sông chưa rõ tên ở Trung Quốc.
“T6 tiên xưa của người Thái đã từng sinh sống ở các mường (tức các khu vực, các "nước”) như Mường Om, Mường Ai, Mường Lò, Mường Hỏ, Mường Bo - te, Mường Óc, Mường Ác, Mường Tum (Tung) Hoàng. Hiện nay, các tên đất này đã được xác định đều thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Đáng chú ý là còn có cả Mường Then hay Mường Theng tức miền Điện Biên Phủ hiện nay. Xưa Mường Then có lẽ rộng hơn bao gồm Mường Té, sông Mã ở Tây Bắc Việt Nam và một phan tinh Phong-sa-lỳ thuộc nước Lào nữa” (Đặng Nghiêm Van, 1968, tr.
Còn theo tác giả Cam Trọng trong cudn Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam thì cho rằng: “Có thê thay su xuat hién tén den, trang dé chi các tộc người cu tra ở miễn Vân Nam trong các thư tịch cô Trung Quốc như Man thư, Đường thư. Vào thời Lưu Tống (thé ki V Công nguyên) đã có các tên O man đông Thoán (người Man đen ở phía đông đất Thoán) hay còn gọi là Di; Bạch Man tây Thoán (người Man trắng ở phí tây đất Thoán) hay còn gọi là Bạch. Theo thông tin của Đại sứ quán Việt Nam ở Thái Lan, người Thái xuất xứ từ vùng An-Tai, Đông Bắc ở tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc từ 4500 năm trước, sau đó di cư dan xuống vùng dat hiện nay là Thái Lan. Vào năm 1238, người Thái thành lập vương quốc tại Sokhothai (miền Bắc Thái Lan), năm 12§3 người Thái có chữ viết chính thức của quốc gia.
Sau đó người Thái mở rộng lãnh thỏ xuống phía Nam và năm 1350 chuyển kinh đô xuống Ayutthaya (phía Bắc Bangkok 70 km). Hơn 400 năm người Thái tiền hành chiến tranh liên miên với Miễn Điện và kinh đô Ayutthaya bị huỷ diệt. (Phạm Thanh Tịnh, 2014, tr.69) Tuy nhiên, sự di cư của người Thái giai đoạn này mới điển ra hết sức lẻ tẻ, yeu ớt. Người Thái mới chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong khu vực Đông Nam Á lục địa.
Trong quá trình di cư, với khao khát tự do, tìm miền đất sinh sống mới, những cu dan có nguôn gốc từ Tây và Tây Bắc Trung Quốc mới tự gọi mình là người Thái (Thái, Tay hay Tay nghĩa là “tự do”). Theo Phya Anuman Rajadhon, tên “Thai” bắt đầu xuất hiện và được biết đến vào khoảng đầu công nguyên. (Phya Anuman Rajadhon. Quá trình di cw của người Thai vé phia Nam.
Theo truyền thuyết về Khun Borom, các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Thai như Thái Den, Thái Trắng, Thái Đỏ và các nhóm tương tự đã bắt đầu đi cư khỏi phía Nam Trung Quốc với các nhóm Shan, Ahom, Lu và Thái Bắc (Thái Yuan - Thái Lớn) vào thé ki VIII và thé ki XI: Nhóm người nói ngữ hệ Thai được chia thành 5 nhóm.