đặt vấn đề, nêu cách giải quyết. HS tiến hành giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của GV. GV đánh giá kết quả làm việc của HS. Cấp độ 2: GV nêu vấn đề, gợi ý HS tìm ra cách giải quyết theo sự giúp đỡ của GV khi cần thiết.
GV và HS cùng đánh giá. Cấp độ 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống. HS phát hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn các giải pháp. HS thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề.
GV và HS cùng đánh giá. Cấp độ 4: HS tự lực phát hiện vấn đề từ một tình huống thực, lựa chọn vấn đề cần giải quyết, tự đề xuất ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải, thực hiện kế hoạch giải, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả giải quyết vấn đề. Các bước thực hiện dạy học PH&GQVĐ Trong dạy học sử dụng phương pháp PH&GQVĐ, giáo viên thường đặt ra vấn đề thông qua THGVĐ, HS tham gia phát hiện và giải quyết vấn đề đó. Vì vậy có thể chia quá trình dạy học sử dụng phương pháp PH&GQVĐ thành bốn bước sau đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề.
- Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề thường là do thầy tạo ra. Thường sử dụng các liên tưởng, các phương thức tư duy (khái quát hoá, tương tự hoá, tư duy hàm ), dùng thực nghiệm (tính toán, đo đạc ) để xây dựng các giả thuyết. Tiếp theo dùng đặc biệt hoá, xét trường hợp suy biến để bác bỏ giả thuyết hoặc xác nhận giả thuyết tin cậy. - Chính xác hoá tình huống.
- Phát biều vấn đề đặt mục đích giải quyết vấn đề. Bước 2: Tìm giải pháp. Tìm một giải pháp theo sơ đồ: Bắt đầu Phân tích vấn đề Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết Hình thành giải pháp Giải pháp đúng - + Kết thúc Giải thích sơ đồ: Khi Phân tích vấn đề, cần làm rõ những mỗi liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. Trong môn toán, ta thường dựa vào những tri thức toán đã học, liên tưởng tới những định nghĩa và định lí thích hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Khi đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề, cùng với việc thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức, thường hay sử dụng những phương pháp, kỹ thuật nhận thức, tìm đoán, suy luận như hướng đích, quy lạ về quen, đặc biệt hoá, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hoá, khái quát hoá, xem xét những mỗi liên hệ và phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi, Phương hướng được đề xuất không phải là bất biến, trái lại có thể phải điều chỉnh, thậm trí bác bỏ và chuyển hướng khi cần thiết. Khâu này có thể làm nhiều lần cho đến khi tìm được hướng đi hợp lí. Kết quả của việc là hình thành được một giải pháp. Việc tiếp theo là kiểm tra giải pháp đó có đúng đắn hay không.
Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm được giải pháp đúng. Sau khi tìm được giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, so sánh chúng với nhau để tìm giải pháp tốt nhất. Bước 3: Trình bày giải pháp Khi đã giải quyết được vấn đề đặt ra, người học trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề.
Trong khi trình bày, cần tuân thủ các chuẩn mực đề ra trong nhà trường như ghi rõ giả thiết, kết luận đối với bài toán chứng minh, phân biệt các phần: Phân tích, cách dựng, chứng minh, biện luận đối với bài toán dựng hình… Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp. - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả. - Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xem xét tương tự, khái quát hóa, đặc biệt hoá, lật ngược vấn đề… và tiếp tục tìm hướng giải quyết.3: Dạy các trường hợp riêng của phương trình mặt phẳng. Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề.
GV: Trong mặt phẳng 0xy, cho đường thẳng d có phương trình tổng quát ax by c 0 (1), với a2 b2 0 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Em hãy cho biết sự ảnh hưởng của các hệ số a, b, c đến vị trí của đường thẳng đối với hệ toạ độ 0xy? HS: c + a = 0 đường thẳng vuông góc với trục 0y tại điểm (0; ) b c + b = 0 đường thẳng vuông góc với trục 0x tại điểm ( ;0 ). a + c = 0 đường thẳng đi qua góc toạ độ O. + Nếu a, b, c đều khác 0 thì ta có thể đưa phương trình (1) về dạng x y 1 (2) a0 b0 c c với: a0 ; b0 a b Phương trình (2) gọi là phương trình đường thẳng theo đoạn chắn, đường thẳng cắt 0x và 0y lần lượt tại các điểm M (a 0 ; 0), N (0; b0 ) GV: Tương tự như vậy trong không gian 0xyz, cho mặt phẳng ( ) có phương trình Ax + By + Cz = 0 với A2 B2 C2 0. Hãy xem xét ảnh hưởng của các số A, B, C, D đến vị trí của mặt phẳng ( ) đối với hệ toạ độ Oxyz như thế nào? HS suy nghĩ.
Bước 2: Tìm giải pháp. GV: Các hệ số A, B, C có liên quan đến yếu tố nào của mặt phẳng ( )? HS: (A; B; C) là toạ độ của một vectơ pháp tuyến n của mặt phẳng ( ). GV: Nhận xét gì về mối liên hệ giữa vị trí của vectơ pháp tuyến n của ( ) và vị trí của ( )? HS: Vectơ pháp tuyến n của mặt phẳng ( ) có giá vuông góc với mặt phẳng ( ). - GV: Như vậy có thể khẳng định: Vị trí của vectơ pháp tuyến n của mặt phẳng ( ) có liên quan đến vị trí của mặt phẳng đó, mà vị trí của vectơ pháp tuyến n lại phụ thuộc các hệ số A, B, C.
Vì A2 B2 C 2 0 nên có thể xảy ra các trường hợp: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 17 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com + Một trong ba hệ số A,B,C bằng 0. + Hai trong ba hệ số A, B, C bằng 0. + Cả ba hệ số A, B, C đều khác 0. Em hãy xét các trường hợp trên? HS: + Nếu một trong ba hệ số A, B, C bằng 0, chẳng hạn A = 0 thì n (0,B,C) ta có n.
i 0 do i là vectơ chỉ phương của 0x nên suy ra ( ) song song hoặc chứa 0x. Tương tự với các trường hợp còn lại. + Nếu hai trong ba hệ số A, B, C bằng 0, chẳng hạn A = B = 0 và C 0 thì n (0,0,C) và n. j 0 suy ra mặt phẳng ( ) song song với 0x và 0y hoặc ( ) chứa 0x và 0y.
Tương tự với các trường hợp còn lại. + Nếu cả ba hệ số A, B, C đều khác không thì ( ) sẽ cắt tất cả các trục toạ độ. GV: Qua trên ta đã thấy được sự ảnh hưởng của các hệ số A, B, C đến vị trí của ( ) đối với hệ toạ độ 0xyz. Còn hệ số D thì sao, có liên quan gì đến vị trí của ( ).
Em hãy xét trường hợp D = 0 và D 0?. HS: + Nếu D = 0 thì gốc toạ độ 0 có toạ độ thoả mãn phương trình của mặt phẳng ( ). Vậy ( ) đi qua gốc tạo độ 0. + Nếu D 0 thì ( ) không đi qua gốc toạ độ.
GV: Hãy tìm hiểu vị trí của ( ) trong trường hợp cả bốn hệ số A, B, C, D đều khác 0? HS: Trường hợp cả bốn hệ số A, B, C, D đều khác 0 thì mặt phẳng ( ) sẽ cắt tất cả các trục toạ độ và không đi qua gốc toạ độ. GV: Mặt phẳng ( ) sẽ cắt tất cả các trục toạ độ cụ thể là cắt tại điểm nào trên trục toạ độ? Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 18 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com HS: Nếu cả bốn hệ số A, B, C, D đều khác 0 thì gọi M, N, P lần lượt là giao điểm của mặt phẳng ( ) với các trục 0x, 0y, 0z. Vì M 0x nên M ( xM ;0;0) Vì N 0y nên N (0; yN ;0) Vì P 0z nên P(0;0;z P ) D Mặt khác M ( ) nên ta có Ax M D 0 , xM , M ( D ;0;0) A A N ( ) nên ta có By N D 0 , y N D , N(0; D ;0) B B P ( ) nên ta có Cz P D 0 , zP D, D P(0;0; ) C C Bước 3: trình bày giải pháp GV: Hãy vẽ hình và trình bày lại tất cả các trường hợp trên? HS: Tự trình bày lại các trường hợp. Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp GV: Về nhà em hãy tìm hiểu xem các hệ số của phương trình hai mặt phẳng có ảnh hưởng như thế nào đến vị trí tương đối của hai mặt phẳng? 1.
Những ưu điểm, nhược điểm khi dạy học PH&GQVĐ 1. Ưu điểm - Phương pháp PH&GQVĐ là một phương pháp dạy học tích cực. Giúp HS tích cực, tự giác, chủ động, hứng thú trong học tập từ đó làm cho HS năng động, sáng tạo và hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. - Phương pháp dạy học này góp phần hình thành ở các em nếp nghĩ, làm việc sáng tạo, độc lập, sự nhanh nhạy và linh hoạt.
Về lâu dài, hoạt động học tập sẽ hình thành ở HS những năng lực khác nhau, trong đó, có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. - Phương pháp PH&GQVĐ gợi nhu cầu nhận thức cho người học, kích thích sự ham mê khám phá của học sinh, đồng thời tạo điều kiện tạo cho học sinh niềm tin có thể giải quyết được vấn đề nếu các em nổ lực hoạt động. HS tập trung, chú ý hơn vào bài học, các em hăng say kiến tạo tri thức mới, lĩnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 19 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com hội một cách chủ động, không bị áp đặt miễn cưỡng. Do đó học sinh nhớ bài sâu và lâu hơn.