CHƯƠNG 1 TRIỀU LÊ SƠ VÀ CHÍNH SÁCH TUYỂN CHỌN QUAN LẠI 1. Sự thành lập triều Lê sơ (1428 - 1527). Có thể nói, ngay từ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi đã biết trọng dụng người tài. Bằng nhiều hình thức chiêu mộ khác nhau, Lê Lợi đã nhanh chóng quy tụ được các bậc anh tài đến từ khắp các vùng, miền trong cả nước với nguồn gốc xuất thân, hoàn cảnh khác nhau: có dòng dõi khoa bảng như Nguyễn Trãi; có tiếng văn chương như Lê Văn Linh; là con thứ dân đi buôn như Lưu Nhân Chú; là người chăn trâu như Trịnh Khả, Nguyễn Chích; làm nghề chài lưới như Nguyễn Thận,… Hầu hết trong số đó là các văn thần võ tướng sau này của nhà Lê sơ.
Trong quá trình diễn tiến của cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi cẩn trọng chọn 11 người giao việc, cốt để phát huy hết năng lực riêng biệt của từng cá nhân, đồng thời thông qua đó cũng phát hiện thêm người hiền tài ra giúp đất nước đang lúc gặp nhiều khó khăn. Tháng 4 năm 1427, trong khi đem quân bao vây thành Đông Quan, Lê Lợi nói rằng: “Ta không có tài dung, trí tuệ, một mình gánh vác công việc nặng nề, sợ không làm nổi, cho nên phải nhún mình cầu hiền, dốc lòng trọng sĩ, cùng mưu việc lớn, để cứu vớt sinh dân. Ai tiến cử được người mưu trí dung lược hơn 3 người hoặc tự tiến cử mình thì đều làm quan cao, tước trọng”. Trong chiếu dụ hào kiệt trong cả nước, Lê Lợi cũng thể hiện mong muốn cầu hiền của mình: “Nếu có ai khí tiết thanh cao như Tứ Hạo, lánh đời ẩn tích như Tử Phòng cũng hãy ra cứu nạn cho dân đã, đợi khi thành công, muốn 4 thỏa chí xưa thì lại trở về rừng núi, không hề cấm giữ”.
Điều đó cho thấy, trọng hiền, cầu hiền ngay từ buổi đầu đã là điều được Lê Lợi chú trọng. Đặc biệt, Lê Lợi xem tiến cử và tự tiến cử là phương thức chính để phát hiện người tài trong giai đoạn này. - 3 Ngô Sĩ Liên (1998) Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, tr. 4 Ngô Sĩ Liên (1998) Đại Việt sử kí toàn thư, tập 1, sđd, tr.
- - ệ Về chính trị: sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, vua Thái Tổ xây dựng bộ máy cai trị đất nước của mình dựa trên những bậc “khai quốc công thần”. Để làm cơ sở cho việc tuyển bổ quan lại, nhà Lê sơ đã cho ban hành “Lê triều quan chế”. Càng về sau, hệ thống quan lại của triều Lê sơ càng trở nên hoàn chỉnh hơn với nguồn quan lại được tuyển dụng từ nhiều phương thức, trong đó chủ yếu là từ khoa cử. Chính điều đó giúp cho chất lượng nguồn quan lại cũng được tăng lên.
Một trong những thành tựu tiêu biểu của triều đại này đó là việc cho ra đời bộ “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tông. Về xã hội: nhờ những chính sách cai trị phù hợp và bộ luật Hồng Đức, đời sống nhân dân ta dưới thời Lê sơ luôn ổn định. Ca dao xưa từng có câu rằng: “Đời vua Thái Tổ - Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” 13 Có thể thấy, nhờ kinh tế phát triển mà đời sống nhân dân được cải thiện. Những bất công xã hội cũng được giảm bớt nhờ những đạo luật nghiêm khắc trong luật Hồng Đức.
Ngoài ra, loạn lạc ở thời này cũng rất ít khi xuất hiện. Đặc biệt, nước ta dưới thời vua Lê Thánh Tông được xem là thời kì thịnh trị trong lịch sử. Mặt khác, nhà Lê, nhất là thời vua Lê Thánh Tông ra sức đề cao kẻ sĩ- những người có kiến thức Nho học. Từ khi còn là học trò cho đến lúc thành đạt, vinh quy bái tổ thì kẻ sĩ luôn được hưởng cả danh và lợi với mức độ ngày càng cao, khiến họ xác định được lí tưởng rõ ràng và kiên đị Về tư tưở 5.
Từ thời Trần, nội dung đề thi ở các cuộc thi Thái học sinh đã bắt đầu liên quan đến Nho học nhưng phải đến thời Lê sơ thì khoa cử mới thật sự phát triển và mang nội dung của giáo dục Nho học. Sự phát triển của Nho học đã kéo theo sự phát triển và vươn lên của phương thức tuyển chọn quan lại thông qua khoa cử 5 ớc cách mạng tháng Tám - 1945 77 14 1. Các phương thức tuyển chọn quan lại dưới thời Lê sơ. Cơ sở pháp lí của hệ thống các phương thức tuyển chọn quan lại thời Lê sơ Tổ chức và hoạt động của hệ thống các phương thức tuyển chọn quan lại thời Lê sơ được dựa trên những văn bản pháp luật ban hành đương thời.
Cu thể là các văn bản: - Luật Hồng Đức: gồm 144 điều quy định về tổ chức hệ thống quan lại, quyền và nghĩa vụ của quan lại. - Lê triều hội điển: quy định về ngạch bậc, quyền lợi và nghĩa vụ của các quan lại trong Lục bộ. - Lê triều quan chế: quy định về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống quan lại. - Thiên Nam dư hạ tập: quy định về chế độ đãi ngộ quan lại.
Ngoài ra còn có các văn bản (chiếu, chỉ, lệnh,…) quy định về quyền, nghĩa vụ, khảo khóa, đào tạo, tuyển dụng quan lại. Có thể thấy, hệ thống các phương thức tuyển chọn quan lại thời Lê sơ được tổ chức hoạt động theo những quy định rõ ràng, cụ thể trong các văn bản luật lệ chính thức của triều đình. Đó là cơ sở pháp lí, tiền đề cho sự phát triển của hệ thống quan lại thời Lê sơ. Cơ sở lí luận của các phương thức tuyển chọn quan lại.
Thực ra thì từ thời Bắc thuộc (179 TCN), khi văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam thì giáo dục Nho giáo cũng bắt đầu hình thành ở nước ta, đặc biệt là từ thời Sĩ Nhiếp (136- 226). Nhưng thực sự phải đến triều Lê sơ thì giáo dục Nho giáo mới chiếm được vị trí độ ục đích lớn nhất của nền giáo dục Nho giáo là đào tạo nên những con người tài năng, đức độ, nguyện một lòng “trung quân ái quốc”. “Nho giáo luôn quan niệm “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, để có một đất nước 6 ớc cách mạng tháng Tám - 1945, sđd, tr. 15 hưng thịnh theo hình mẫu lí tưởng dưới thời vua Nghiêu, Thuấn bên Trung Hoa thì cần phải có thật nhiều hiền tài, nghĩa sĩ phò giúp vua trong công cuộc cai trị 7 đất nước”.
Hiền tài theo quan niệm của Nho giáo là những người có trình độ, am hiểu được đạo lí sách Thánh hiền, có đức độ theo chuẩn mực của Nho giáo. Giáo dục Nho giáo đi theo các bước cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, là nhằm mục đích đào tạo ra những người có đủ tài đức theo tiêu chuẩn của Nho giáo là: “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong gia đình thì có thể quán xuyến, chu đáo việc nhà, ra ngoài thì có đủ tâm lực và trí tuệ phụng sự triều đình, giúp nhà vu cai trị đất nước, xây dựng một vương triều, một quốc gia hung cường, thái bình. Nền giáo dục Nho giáo được phổ biến và phát triển thông qua hệ thống trường học công và tư.
Trường công do triều đình lập nên và thường được đặt tại kinh đô và trung tâm của các phủ, huyện. “Quốc tử giám” là trường công đâu tiên được lập nên dưới triều vua Lý Nhân Tông vào năm 1076 tại Thăng Long. Năm 1253, vua Trần Thái Tông thành lập “Quốc học viện” để giảng dạy “Tứ thư, Ngũ kinh”. Còn ở thời Lê sơ, vào năm 1483, vua Lê Thánh Tông mở nhà Thái học và lập Thư viện.
Ngoài ra, ở các lộ, phủ còn có các Học quán. “Những trường công này thường dành cho đối tượng là các con cháu hoàng tộc hay quan 8 lại trong triều, tại đây có những chức quan chuyên phụ trách việc giảng dạy”. Còn các trường tư thì mở tại các làng, xã hoặc tại gia bởi những nhà Nho có chữ nghĩa. Con em nông dân làng xã đều có quyền theo học.
Sách vở giảng dạy trong các trường này hầu như chủ yếu là của các nhà hiền triết Nho giáo Trung Hoa. Các sách như: “Tam tự kinh”, “Minh đạo gia huấn”, „Hiếu kinh”,… vừa nhằm dạy chữ cho học trò, vừa dạy lễ nghĩa và các quy phạm đạo đức, ứng xử trong gia đình, xã hội theo triết lí Nho giáo. Còn những sách như: “Tứ thư”, “Ngũ kinh” giúp người học thấu hiểu nghĩa lí của Nho giáo, cung cấp các kiến thức về lịch sử, văn hóa, xã hội, đạo lí để có đủ năng lực tham dự các kì thi và giúp vua trị nước sau khi đỗ đạt. 7 Phạm Hồng Tung (2005) Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, sđd, tr.
8 Phạm Hồng Tung (2005), Khảo lược về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, sđd, tr. 16 Cùng với sự phát triển của nền giáo dục Nho giáo, chế độ tuyển chọn quan lại cũng thay đổi dần từ hình thức tiến cử ban đầu sang chế độ khoa cử cho phù hợp. Lệ khoa cử có từ thời vua Lý Nhân Tông với khoa thi năm 1072 và được duy trì qua các triều đại Trần, Hồ với tên gọi là kì thi Thái học sinh. Nhưng phải đến triều Lê sơ, thời vua Lê Thánh Tông thì khoa cử mới được quy định rõ ràng và hoàn chỉnh nhất.
Lệ thi cử gồm ba kì: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Ở mỗi kì thi, các thí sinh phải trải qua 4 trường gồm: thi Kinh nghĩa, thi Pháp luật, thi làm thơ phú, thi văn sách. Với việc hệ tư tưởng Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong nền giáo dục phong kiến Việt Nam thì bất kì triều đại phong kiến nào của nước ta cũng có tư tưởng trọng người hiền tài. Mỗi triều đại, mỗi đời vua lại có những chính sách tuyển chọn và đãi ngộ nhân tài khác nhau.
Ở thời Lê sơ, bên cạnh những khoa thi chính thức theo lệ ba năm một lần, nhà vua vẫn cho tổ chức một số khoa thi bất thường theo phép cầu hiền để kén chọn người hiền ra làm quan, phụng sự triều đình. Mặc dù từ thời nhà Lý việc trọng dụng các trí thức Nho giáo đã xuất hiện, tuy nhiên cũng phải thời Lê sơ, đặc biệt là triều vua Lê Thánh Tông thì tầng lớp này mới thực sự là nguồn bổ sung quan lại chủ yếu nhất, tham gia trực tiếp vào bộ máy thống trị của triều đình.