Lời mở đầu Trong quá trình vận động của bất cứ một nền kinh tế nào, chúng ta thấy rằng, có những giai đoạn các hoạt động kinh tế có xu thế phát triển, nhưng đến một thời điểm nào đấy, sự phát triển được coi là đạt đến điểm cực đại, chúng sẽ có xu hướng đi xuống. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà kinh tế đã tìm ra được những qui luật vận động của các hoạt động kinh tế riêng biệt theo những chu kỳ nhất định và tổng hoà sự vận động của chúng tạo nên những chu kỳ kinh doanh (hay còn gọi là chu kỳ kinh tế)1. Để giúp cho các nhà phân tích và hoạch định chính sách có thêm thông tin trong việc đề ra các quyết sách phù hợp, dự báo tình hình kinh tế trong tương lai, người ta đã nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh một cách đầy đủ hơn cả về khái niệm lẫn biểu hiện và phương pháp đo tính. Nhiều phương pháp đo tính khác nhau đã được sử dụng trong quá trình đánh giá và phân tích chu kỳ kinh doanh, trong đó sử dụng các loại Chỉ số tổng hợp là một trong những phương pháp phổ biến nhất.
Có ba loại chỉ số: Chỉ số tổng hợp chỉ đạo; Chỉ số tổng hợp trùng hợp và Chỉ số tổng hợp trễ2. Trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế Việt Nam, tuy hàng năm chúng ta đã thực hiện nhiều phân tích, đánh giá về tình trạng hoạt động của nền kinh tế. Song các nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh cũng như về phương pháp tính 3 loại Chỉ số tổng hợp phản ánh tình trạng của kinh doanh hiện nay còn là vấn đề mới, chưa có những nghiên cứu cụ thể trong lĩnh vực này. Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiªn cøu ph−¬ng ph¸p tÝnh mét sè chØ sè tæng hîp ph¶n ¸nh chu kú kinh doanh vµ kh¶ n¨ng øng dông ë ViÖt Nam” là cần thiết và có ý nghĩa gợi mở về một lĩnh vực cần quan tâm cho các nhà nghiên cứu và phân tích kinh tế.
Tuy nhiên, đây lại là một vấn đề mới, nội dung phức tạp và phạm vi nghiên cứu rộng. Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu, ban chủ nhiệm và các thành viên tham gia chủ yếu phải dựa vào tài liệu của nước ngoài, nên không thể chuyển tải hết được những vấn đề có liên quan. 1 Trong đề tài sử dụng thuật ngữ “Chu kỳ kinh doanh” để thống nhất với từ điển kinh tế. 2 Đây là các thuật ngữ mà đề tài chúng tôi tạm gọi tên như vậy.
1 Với điều kiện như trên, trong phạm vi một đề tài nghiên cứu cấp tổng cục, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu như: Khái niệm về chu kỳ kinh doanh, các chỉ số tổng hợp phản ánh chu kỳ kinh doanh và khả năng ứng dụng vào điều kiện của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong báo cáo tổng hợp gồm: Phần một: Một số vấn đề về chu kỳ kinh doanh và Chỉ số tổng hợp phản ánh chu kỳ kinh doanh Phần hai: Phương pháp tính Chỉ số tổng hợp phản ánh chu kỳ kinh doanh Phần ba: Thử nghiệm qui trình tính Chỉ số tổng hợp và khả năng áp dụng của Việt Nam Ban chủ nhiệm đề tài mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp và xin chân thành cảm ơn. 2 PHẦN MỘT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHU KỲ KINH DOANH VÀ CHỈ SỐ TỔNG HỢP PHẢN ÁNH CHU KỲ KINH DOANH Các nhà kinh tế nổi tiếng của thế giới đã nghiên cứu nhiều về lý thuyết chu kỳ kinh doanh, đã ứng dụng nhiều phương pháp kỹ thuật trong việc phát hiện ra những biểu hiện mang tính chu kỳ của các hiện tượng kinh tế. Mặc dù nội dung chính của đề tài không phải là nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh, hơn nữa chúng tôi cũng chưa được tiếp cận với những nghiên cứu nào về các chu kỳ kinh doanh thực tế của Việt Nam, song để người đọc có thể hình dung được một cách khái quát nhất về lĩnh vực này, chúng tôi cũng trình bày tóm lược lý thuyết của chu kỳ kinh doanh, không đi sâu vào kỹ thuật phân tích các yếu tố lý giải chu kỳ kinh doanh.
CHU KỲ KINH DOANH 1. Chu kỳ kinh doanh hiểu theo nghĩa chung Đầu tiên, chu kỳ kinh doanh là một hiện tượng kinh tế được tìm thấy qua kinh nghiệm thực tế. Nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực kinh tế và xã hội đã thực hiện những nghiên cứu các hiện tượng kinh tế, xã hội trong một thời gian tương đối dài, đã nhận thấy rằng: tình trạng kinh doanh phần lớn là diễn ra tốt đẹp, nhưng tại một số thời kỳ cũng lâm vào cảnh yếu kém, sa sút. Trước đây, người ta gọi giai đoạn tốt đẹp là “Thời kỳ thịnh vượng”, và giai đoạn sa sút là “Thời kỳ suy thoái”.
Bước quá độ từ thời kỳ thịnh vượng sang thời kỳ suy thoái thường được gọi là “Sự khủng hoảng”. Quá độ từ tình trạng suy thoái sang tình trạng thịnh vượng được gọi là “Sự phục hưng”. Ngày nay thuật ngữ “Thời kỳ phục hồi” được dùng phổ biến hơn. Sự mô tả về chu kỳ kinh doanh như vậy là rất có ý nghĩa trong việc nhận dạng chu kỳ kinh doanh và đã nhận được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu và ứng dụng trong thực tế.
Trong chu kỳ kinh doanh, các nhà phân tích đã xem xét một cách cẩn thận thời kỳ suy thoái của nền kinh tế. Chúng được coi như là những giai đoạn ngừng trệ nguy hiểm của quá trình tăng trưởng. Đồng thời, những 3 người thường xuyên quan tâm đến những đặc điểm vận động của nền kinh tế đã chứng minh được bản chất linh hoạt và nhảy cảm của các quá trình được quan sát, chẳng hạn như: sự suy thoái kinh tế có thể chỉ diễn ra ở mức độ nhẹ nhưng cũng có thể là rất khốc liệt; sự phục hồi có thể diễn ra từ từ hoặc cũng có thể là phát triển rất nhanh chóng. Một trong những công trình nghiên cứu sớm nhất của Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Mỹ (NBER) là biên soạn cuốn “Biên niên đại chu kỳ kinh doanh” (xem Thorp 1926).
Nhờ vào việc phân tích một khối lượng lớn những thông tin mang tính định lượng phản ánh mọi khía cạnh của các hoạt động kinh tế chung, của chỉ số giá, tiền tệ, và thống kê tài chính qua các giai đoạn khác nhau mà NBER đã xây dựng được các “Niên đại chu kỳ kinh doanh” cho các nước Mỹ, Anh, Pháp và Đức (xem Burns và Mitchell 1946). Một thực tế đáng quan tâm là nhiều người có khả năng dự đoán về tình trạng kinh doanh một cách khá tốt, thậm chí cả trong trường hợp bị hạn chế về nguồn số liệu. Trong chu kỳ kinh doanh, quá trình suy sụp của các hoạt động kinh tế làm tổn thất lớn đến đời sống vật chất và tinh thần của con người trong mọi lĩnh vực, nên chúng ta có thể nhận ra được chúng mặc dù quá trình vận động của chúng thường có độ trễ về mặt thời gian. Bằng những biểu hiện ngược lại, theo các cách nhận biết tương tự, chúng ta có thể phát hiện ra quá trình phát triển của nền kinh tế.
Vậy Chu kỳ kinh doanh là gì? Theo nghĩa chung nhất “Chu kỳ kinh doanh”được hiểu là sự biến động của các hoạt động kinh tế ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định, trong đó các giai đoạn phát triển và các giai đoạn suy giảm luân chuyển lẫn nhau không ngừng. Khái niệm về chu kỳ kinh doanh như vậy có thể dễ dẫn tới sự hiểu lầm vì nó hàm ý rằng, biến động kinh tế tuân theo định kỳ thời gian như nhau và có thể dự báo trước được. Song thực tế cho thấy, chu kỳ kinh doanh ở nước nào cũng vậy, kết quả của các hoạt động kinh tế vĩ mô như GDP thực tế, thất nghiệp, lạm phát.lặp đi lặp lại không theo một độ dài thời gian giống nhau và cũng không theo một biên độ dao động giống nhau, nên rất khó có thể dự báo trước được với độ chính xác cao. Các nhà kinh tế bằng kỹ thuật chuyên môn cũng đã tìm cách để nhận dạng chúng một cách cụ thể hơn.
Chu kỳ kinh doanh theo quan điểm của các nhà kinh tế Người ta có thể dễ dàng nhận ra được một số biểu hiện của chu kỳ kinh doanh, đặc biệt là những biểu hiện mang tính đặc thù, nhưng rất khó có thể định nghĩa được một cách chính xác về chu kỳ kinh doanh. Trong quá trình nghiên cứu những biến đổi rõ rệt của nền kinh tế, ban đầu các nhà nghiên cứu và các sử gia đều tiến hành những quan sát trên nhiều khía cạnh khác nhau: ảnh hưởng của thời tiết, các cuộc chính biến, sự ham mê đầu cơ và cả những lo sợ, hoảng loạn xảy ra trong xã hội. Mục đích của những nghiên cứu này chủ yếu là để tìm ra nguyên nhân cho sự khủng hoảng, suy sụp của nền kinh tế. Nhưng đối với các nhà kinh tế, họ quan tâm đến khái niệm chu kỳ kinh doanh bao gồm cả những biến động kinh tế lẫn những nguyên nhân chủ yếu hoặc tất cả các nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh doanh.
Ví dụ, theo quan điểm của Cassel “Thời kỳ tăng vọt” là một thời kỳ tăng đặc biệt về đầu tư vốn cố định; “Thời kỳ suy giảm/suy thoái” là thời kỳ mà sự đầu tư về vốn cố định giảm xuống dưới điểm mà nó đã đạt trước đây… Điều này có nghĩa là sự thay đổi giữa giai đoạn tăng vọt và suy thoái cơ bản là do sự biến động về vốn đầu tư vào tài sản cố định, nhưng nó không liên quan trực tiếp đến những lĩnh vực đầu tư khác. Một vấn đề khác cần quan tâm là nhận định của Hawtrey: “Chu kỳ kinh doanh trước hết, là một sự thay đổi có tính định kỳ về hoạt động sản xuất và về mức giá, cả hai yếu tố cùng dao động”. Lý thuyết của Hawtrey đã nhấn mạnh vai trò hoạt động của tín dụng ngân hàng, đầu tư tài sản lưu động và giá cả. Việc tìm ra một khái niệm về chu kỳ kinh doanh là rất khó khăn.
Mitchell đã tiến hành nghiên cứu trên cơ sở kinh nghiệm thực tế những vấn đề chủ yếu xảy ra trong các quá trình mở rộng và thu hẹp sản xuất và đã đưa ra được một định nghĩa mang tính chất thăm dò vào năm 1927.