Chương 1 trình bày về các phần tổng quan của bài nghiên cứu. Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết nghiên cứu. Bối cảnh, phương pháp và khung phân tích nghiên cứu được trình bày trong Chương 3. Chương 4 đề cập đến kết quả nghiên cứu thông qua cuộc khảo sát.
Cuối cùng là chương 5 sẽ kết luận và đề xuất ra những chính sách phù hợp.1 Phương pháp tiếp cận học tập Các lý thuyết phương pháp tiếp cận học tập bắt nguồn từ phân tích định tính các cuộc phỏng vấn sinh viên để mô tả hành vi và ý định học tập của họ khi nghiên cứu một tài liệu của hai tác giả Marton và Säljö. Từ việc học sinh tập trung vào việc rút ra ý nghĩa từ tài liệu nhưng với sự tập trung khác nhau về kết quả và quá trình. Từ đó hai cách tiếp cận đặc biệt đã được xác định: tiếp cận ở cấp độ sâu và cấp độ nông. Sự khác biệt giữa chúng có thể được giải thích bởi thái độ học tập thụ động hoặc tích cực (Dahlgren & Marton, 1978).
Sự khác biệt được thực hiện theo các tài liệu tham khảo mà sinh viên thực hiện về ý định và tổ chức, trong đó động lực làm tăng quá trình xử lý ở mức độ sâu và sự lo lắng làm tăng quá trình xử lý ở mức độ nông (Entwistle, 1977). Phương pháp tiếp cận học tập của sinh viên (Students’ Approaches to Learning-SAL) có thể được định nghĩa là cách người xử lý thông tin hoặc kinh nghiệm thu được. Student có thể được hiểu là người học nói chung, trong phạm vi bài viết này, người học được quan tâm là sinh viên. Các cá nhân khác nhau sử dụng một cách tiếp cận khác nhau để giải thích và phân tích thông tin nhằm tiếp thu chúng để trở thành một phần kiến thức của mình.
Vấn đề của SAL rất quan trọng do nó có mối quan hệ chặt chẽ với thành tích học tập của học sinh (Kek et al. Phương pháp tiếp cận học tập được nhiều nhà giáo dục coi là một phương tiện mạnh mẽ để mô hình hóa việc học tập của học sinh và chất lượng kết quả học tập (Duff et al. Phương pháp tiếp cận để học tập là một khái niệm về động cơ học tập của học sinh và việc học sinh sử dụng các chiến lược thích hợp (Zhang & Sternberg, 2000). Nó mô tả bản chất của mối quan hệ giữa học sinh, bối cảnh và nhiệm vụ (Biggs et al.
Về cơ bản, hai cách tiếp cận để học đã được xác định: cách tiếp cận ‘nông’ và cách tiếp cận ‘chiều sâu’ (Marton & Säljö, 1976).Mặc dù có sự khác biệt riêng theo thời gian và không gian nhưng chúng lại bị ảnh hưởng bởi các loại trải nghiệm giảng dạy, học tập và đánh giá mà cá nhân gặp phải và buộc các cá thể phải thay đổi theo các điều kiện học tập khác nhau. Tóm lại, phương pháp tiếp cận để học tập mô tả hành vi khi người học làm khi đang học và lý do tại sao họ nên làm điều đó. Lý thuyết mô tả sự khác biệt cơ bản là giữa các phương pháp học tập hướng tới sự hiểu biết cho phép sử dụng và tái sử dụng thông tin trong nhiều tình huống khác nhau và phương pháp tiếp cận nông để học tập chủ yếu ghi nhớ tài liệu cho các bài kiểm tra và kỳ thi,… 6 Các phương pháp tiếp cận học tập mô tả và giải thích các điều kiện mà việc học tập diễn ra và không diễn ra. Phong trào này hướng tới việc hình thành lý thuyết về quá trình học tập.
Đồng thời, cố gắng cung cấp một sự nhất quán nhất định cho một tập hợp con cụ thể của các phát hiện thực nghiệm trong lĩnh vực học tập. Phương pháp tiếp cận để học tập chủ yếu liên quan đến mô thức hoạt động, thủ tục, phong cách hoặc kỹ thuật học tập. Những cách tiếp cận này áp dụng cho tất cả các nhiệm vụ học tập. Trong tác phẩm ban đầu của Marton và Säljö theo như đề cập ở trên, phương pháp tiếp cận học tập được định rõ bao gồm hai phương pháp là tiếp cận sâu và tiếp cận nông đối với việc học song hành cùng thiết lập mối quan hệ với kết quả học tập (1976) Tiếp cận sâu (deep learning) mô tả những sinh viên có xu hướng tham gia vào quá trình một cách tích cực để phản ánh và tích hợp thông tin để hiểu tài liệu được giảng dạy.
Phương pháp tiếp cận được công nhận bởi một quy mô phụ bao gồm “(1) tìm kiếm ý nghĩa, (2) liên quan đến các ý tưởng, (3) sử dụng bằng chứng và (4) quan tâm đến các ý tưởng”. Những cá nhân theo hướng học sâu sẽ nghiên cứu nội dung một cách xác thực, chi tiết và họ sẽ cố gắng phấn đấu để hiểu toàn bộ các ý nghĩa trên những thông tin mà họ tiếp cận (Dasari, 2009). Theo Entwistle và Ramsden (1983), cách tiếp cận học tập sâu chỉ ra mong muốn liên hệ nhiệm vụ với trải nghiệm cá nhân bên ngoài bối cảnh nghiên cứu, xem nó như một phần của sự phát triển cá nhân của một người; tìm kiếm các mối quan hệ giúp tích hợp các bộ phận thành một tổng thể và tích hợp cấu trúc cơ bản hoặc ý định của toàn bộ nhiệm vụ. Tiếp cận nông (surface learning) đề cập đến cá nhân tập trung vào việc cố gắng đối phó với nhiệm vụ được giao và xem khóa học như một gánh nặng, do đó dẫn đến sử dụng việc ghi nhớ những thông tin mà sau đó dẫn đến sự hiểu biết học tập hạn chế.
Phương pháp tiếp cận "nông" được công nhận bởi một thang điểm phụ liên quan đến "(1) việc ghi nhớ thông tin không liên quan, (2) giới hạn việc học của chủ đề vào chương trình học (không giới hạn giáo trình), và (3) nỗi sợ thất bại".Điều này có nghĩa là những cá nhân đã áp dụng phương pháp tiếp cận nông tập trung vào học vẹt hoặc ghi nhớ các sự kiện bởi vì chúng chỉ nhằm mục đích đạt được một yêu cầu tối thiểu (Dasari, 2009). Những sinh viên áp dụng phương pháp tiếp cận nông để học ghi nhớ sự kiện nhưng không cố gắng đưa chúng vào bối cảnh lớn hơn và họ tuân theo các quy trình giải pháp thông thường mà không cố gắng hiểu nguồn gốc và giới hạn của chúng. Những sinh viên này thường thể hiện một động lực bên ngoài để tiếp cận học tập và sự chấp nhận không nghi ngờ đối với mọi thứ trong sách giáo Khoa và trong các bài giảng (Felder & Brent, 2005). 7 Sự khác biệt cơ bản giữa hai phương pháp là phương pháp tiếp cận học tập sâu hướng tới sự hiểu biết rộng, cho phép sử dụng và tái sử dụng thông tin trong nhiều tình huống khác nhau.
Phương pháp tiếp cận nông chủ yếu mô tả cách ghi nhớ tài liệu cho các bài kiểm tra và kỳ thi. Ngoài hai phương pháp tiếp cận trên thì trong các giai đoạn sau nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy còn có một số thành tố trong phương pháp tiếp cận học tập khác và đó chính là tiếp cận theo chiến lược và động cơ. Do đó, bài viết cũng hướng đến sự xem xét của các thành tố của các phương pháp tiếp cận học tập. Để hiểu rõ hơn về chiến lược và quy trình học tập được sử dụng trong phương pháp tiếp cận sâu và nông thì Entwistle và cộng sự (1997) đã Sử dụng công trình của Marton và Säljö (1976) cung cấp một bản tóm tắt hữu ích (Bảng 1).
Khi phản ánh các đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận sâu,(Entwistle et al., 1997)chỉ ra rằng "liên hệ các ý tưởng" và "tìm kiếm các mẫu" có thể được coi là tương đương với khái niệm của(Pask, 1976)về "học tập theo thuyết" và tương tự như vậy " Kiểm tra bằng chứng và "kiểm tra logic" xác định "hoạt động học" của Pask. Cả hai chiến lược này đều được lập luận là cần thiết để phát triển sự hiểu biết thấu đáo. Bảng 1: Các chiến lược và quy trình học tập (Entwistle, 2004) Tiếp cận sâu Tiếp cận nông Liên hệ ý tưởng với kiến thức và kinh Coi khóa học như những phần kiến nghiệm trước đây thức không liên quan Tìm kiếm các mẫu và nguyên tắc cơ thường xuyên ghi nhớ các sự kiện và bản thực hiện các thủ tục Kiểm tra bằng chứng và liên hệ nó Tập trung hạn chế vào nhu cầu giáo với kết luận trình tối thiểu Kiểm tra logic và lập luận một cách Thấy ít giá trị hoặc ý nghĩa trong thận trọng và phê phán khóa học hoặc đặt nhiệm vụ Ghi nhớ bất cứ điều gì là cần thiết để Nghiên cứu mà không suy nghĩ về hiểu mục đích hoặc chiến lược Theo dõi sự hiểu biết khi quá trình học tập tiến triển 2.2 Mô hình 3Ps Mô hình 3Ps ra đời đã cung cấp cho các thành viên trong hệ thống giáo dục những cách thức để thúc đẩy học tập ở trình độ cao hơn và sắp xếp môi trường của mình một cách hợp lý hơn. Về cơ bản, mô hình 3Ps đại diện cho hệ thống trải nghiệm việc học một cách có logic của thành viên đang trong quá trình học tập.
Các thành phần chính của mô hình này bao gồm 3P theo hình thức 8 học tập trên lớp: Presage (đặc điểm của học sinh và bối cảnh giảng dạy), Process (quy trình xử lý nhiệm vụ) và Product (kết quả). Mô hình thể hiện rõ các cách tiếp cận để học tập và vị trí của chúng trong bối cảnh của môi trường giáo dục. Trong mô hình 3P, các yếu tố sinh viên, không gian giảng dạy, phương pháp tiếp cận học tập theo nhiệm vụ và kết quả học tập tương tác lẫn nhau, tạo thành một hệ thống năng động (Biggs et al., 2001) Các yếu tố định trước (presage) bao gồm cả đặc điểm của học sinh và các khía cạnh của không gian giảng dạy. Các yếu tố đánh giá sinh viên là các đặc điểm liên quan đến học tập tương đối ổn định bao gồm các quan niệm về học tập, kiến thức trước đây, động cơ, thói quen làm việc, vị trí kiểm soát, nhận thức về hiệu quả của bản thân, phong cách học tập, và các yếu tố xã hội và văn hóa.
Các yếu tố định lượng giảng dạy bao gồm các quan niệm về học tập và giảng dạy, phong cách và phương pháp giảng dạy, tổ chức chương trình giảng dạy, độ khó của nhiệm vụ, quy trình đánh giá, thời gian có sẵn, nguồn tài liệu, môi trường lớp học, v.