Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM 1. Lịch sử hình thành 1. EY toàn cầu Năm 1894, công ty kế toán Stuart & Young được sáng lập bởi Arthur Young. Đến năm 1906, tách riêng ra thành công ty Arthur Young & Co.
Năm 1944, Clarkson Gordon & Co được sáp nhập vào Arthur Young & Co, mở rộng phạm vi hoạt động của Arthur Young ra hơn 100 quốc gia trên thế giới. Năm 1903, công ty Ernst & Ernst được thành lập ở Cleveland bởi Alwin C. Ernst và anh trai Theodore Ernst. Qua gần một thế kỷ hoạt động, Ernst & Ernst phát triển liên tục, sáp nhập với Whinney Smith & Whinney tạo thành Ernst & Whinney - công ty kế toán lớn thứ 4 thế giới bấy giờ.
Như vậy, sự ra đời của Ernst & Young ngày nay được hình thành do sự sáp nhập lớn trong ngành kế toán giữa hai công ty Ernst & Whinney và Arthur Young & Co vào năm 1989. Năm 2013, Ernst & Young quyết định lấy tên thương mại là EY và hoạt động cho đến nay. EY Việt Nam Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam được thành lập ngày 11 tháng 3 năm 1992, đây là công ty 100% vốn nước ngoài đầu tiên được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, kế toán – kiểm toán. EY Việt Nam nằm tại khu vực Asia Pacific với trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và văn phòng tại Hà Nội và đã mở rộng sang khu vực Lào và Campuchia.
Hiện nay, EY Việt Nam với hơn 1400 nhân viên bản địa và chuyên gia nước ngoài có nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại các tổ chức quốc tế trong nước và trên thế giới. Cơ cấu tổ chức Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được phân cấp, phân nhiệm cụ thể. Người đứng đầu mỗi bộ phận chịu trách nhiệm về hoạt động của bộ phận mà mình quản lý và giữa các bộ phận có sự hỗ trợ lẫn nhau, gồm: 5 - Bộ phận AABS: Chuyên thực hiện dịch vụ kiểm toán, gồm nhiều nhóm kiểm toán, trong đó có 2 nhóm cốt lõi: Core Assurance (Kiểm toán doanh nghiệp) và FSO (Kiểm toán các tổ chức tài chính tín dụng). - Bộ phận TAX: Chuyên thực hiện các dịch vụ về thuế.
- Bộ phận TAS: Chuyên cung cấp các dịch vụ về tư vấn quản trị doanh nghiệp. - Bộ phận ITRA: Chuyên cung cấp dịch vụ kiểm toán hệ thống thông tin. - Bộ phận ADMIN: Thực hiện công việc nội bộ trong đơn vị, bao gồm nhân sự, văn phòng, kế toán và công nghệ thông tin (IT). Managing Partner AABS TAX TAS ADMIN Partner Partner Partner FC CEO Director Director Director Staff Staff Senior manager 1, 2 Senior manager Senior manager Manager 1, 2 Manager Manager Senior 1, 2, 3 Senior 1, 2, 3 Senior 1, 2, 3 Staff 1, 2 Staff 1, 2 Staff 1, 2 Hình 1: Cơ cấu tổ chức của EY Việt Nam 1.
Lĩnh vực hoạt động Hiện tại, EY Việt Nam đang cung cấp các loại hình dịch vụ chính như: - Dịch vụ đảm bảo (kiểm toán) - Dịch vụ tư vấn - Tư vấn thuế 6 - Tư vấn giao dịch Trong đó dịch vụ kiểm toán và đảm bảo vẫn chiếm tỉ lệ cao nhất trong doanh thu đối với các công ty có doanh thu từ việc kiểm toán trên BCTC, tiếp theo đó là các dịch vụ về tư vấn và tư vấn thuế. Ngoài ra, EY còn phối hợp với các đơn vị ban ngành tổ chức các sự kiện, hội thảo về thuế, xác định giá, chiến lược… đóng góp nhiều giá trị kinh tế, xã hội. Dịch vụ tư vấn (Advisory) Các dịch vụ về tư vấn doanh nghiệp như: nâng cao hiệu quả hoạt động về tài chính, chuỗi cung ứng, khách hàng; tư vấn về rủi ro, quản trị doanh nghiệp; phân tích nguồn lực để định hướng phát triển, chiến lược kinh doanh; kiểm toán, kiểm soát nội bộ; tư vấn bảo mật trong CNTT (ITRA); quản trị thông tin, kiểm soát rủi ro và tuân thủ đối với CNTT… EY Việt Nam luôn cố gắng đem lại sự tư vấn hiệu quả cao nhất cho việc kinh doanh của khách hàng thông qua sự hiểu biết chuyên sâu của các chuyên gia cùng với đó là những kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế chuyên nghiệp. Dịch vụ đảm bảo (Assurance) Các dịch vụ kiểm toán của EY bao gồm: - Kiểm toán báo cáo tài chính theo luật định và kiểm toán cho tập đoàn - Dịch vụ kiểm soát rủi ro công nghệ và bảo mật (TSRS) - Kiểm toán theo thủ tục thỏa thuận trước và kiểm toán cho mục đích đặc biệt - Soát xét báo cáo tài chính - Kiểm toán chẩn đoán - Dịch vụ kiểm soát rủi ro kinh doanh (BRS) Ngoài ra, EY Việt Nam còn cung cấp các dịch vụ khác như thực hiện việc soát xét về khả năng sát nhập, mua bán doanh nghiệp, soát xét BCTC hàng quý và thực hiện hợp nhất BCTC trong tập đoàn quốc tế.
Tư vấn thuế (Tax) Chuyên cung cấp các dịch vụ về thuế và liên quan đến thuế cho các doanh nghiệp, hỗ trợ trong việc xử lý báo cáo thuế, kê khai thuế. Bên cạnh đó, EY cũng hợp tác chặt chẽ với các văn phòng quốc tế để xem xét việc ảnh hưởng đến toàn bộ tập đoàn và các đơn vị trực thuộc tại mỗi quốc gia. Khách hàng chính Khách hàng chính của EY là những công ty có quy mô lớn trên thị trong mọi lĩnh vực như ngân hàng, thương mại, sản xuất, bảo hiểm, viễn thông, công nghiệp, xây dựng, dầu khí, nhà hàng, khách sạn…, bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á. EY Global được rất nhiều các tập đoàn lớn trên thế giới tin tưởng đồng hành như: Hewlett Packard, Verizon, General Motors, Coca Cola, Walmart, Amazon.
Tại Việt Nam, EY hiện là đơn vị kiểm toán cho đa số các đơn vị có lợi ích công chúng (225 công ty năm 2019). Trong đó có nhiều công ty niêm yết lớn nổi bật như: Thế Giới Di Động, Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn Hoa Sen, Gỗ Trường Thành, Vinhomes, VPBank, Sacombank, Đất Xanh Group. 8 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC THỦ TỤC THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRÊN MỘT SỐ PHẦN HÀNH TẠI CÔNG TY TNHH ERNST & YOUNG VIỆT NAM 2. Cơ sở luận về bằng chứng kiểm toán 2.
Tổng quan về bằng chứng kiểm toán 2. Khái niệm Theo đoạn 5 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (VSA) số 500: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán”. Từ khái niệm có thể thấy được BCKT bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, BCTC và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác. BCKT còn có thể là giấy xác nhận bên thứ ba, những thông tin, tài liệu khác bằng lời nói hay văn bản do KTV thu thập nhằm làm cơ sở cho ý kiến của mình về BCTC của đơn vị được kiểm toán.
Ngoài ra chúng ta phải lưu ý rằng tất cả tài liệu, thông tin mà KTV thu thập chưa hẳn là BCKT bởi vì chưa chắc tài liệu thông tin đó đã liên quan đến cuộc kiểm toán. KTV có thể thu thập bằng chứng từ: - Cuộc kiểm toán hiện hành và từ cuộc kiểm toán năm trước. - Tài liệu kế toán của đơn vị (như chứng từ, sổ kế toán) và các thông tin bên ngoài đơn vị như từ nhà cung cấp, luật sư, ngân hàng. Trong khi VSA 500 chỉ nêu khái quát BCKT là tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, BCTC và những nguồn khác mà không nêu rõ cụ thể nên KTV khó tiếp cận, thì ISA 500 qui định rõ hơn những bằng chứng mà KTV thường thu thập.
Ví dụ: Những ghi chép trong sổ sách kế toán như sổ cái, sổ chi tiết, nhật ký chung, các hóa đơn, hợp đồng, những bút toán điều chỉnh, bảng phân bổ… 2. Yêu cầu BCKT có vai trò quan trọng và thực tế cho thấy, không phải thông tin nào cũng có thể sử dụng làm BCKT bởi vì BCKT được thu thập từ rất nhiều nguồn nên dẫn đến có những mâu thuẫn xảy ra và BCKT không phải chỉ là các tài liệu thông thường, vì vậy BCKT phải có những yêu cầu nhất định. Theo VSA 200 đoạn 05 “KTV đạt được sự đảm bảo hợp lý khi 9 đã thu thập được đầy đủ BCKT thích hợp nhằm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro mà KTV đưa ra ý kiến không thích hợp khi BCTC còn có những sai sót trọng yếu) đến một mức độ thấp có thể chấp nhận được”. Đầy đủ Một trong số những yêu cầu quan trọng khi thu thập BCKT chính là sự đầy đủ.
Số lượng bằng chứng kiểm toán phụ thuộc vào việc đánh giá rủi ro có sai sót (rủi ro cao thì càng nhiều bằng chứng cần thu thập) của kiểm toán viên và chất lượng của bằng chứng kiểm toán (chất lượng càng cao thì càng ít bằng chứng kiểm toán). Ví dụ 1: Trong thủ tục kiểm toán PTKH, các BCKT là hợp đồng, hóa đơn đã phát hành, chứng từ chuyển giao hàng hóa là chưa đảm bảo hỗ trợ cho ý kiến của KTV về khoản mục này. KTV tăng số lượng BCKT thông qua thu thập xác nhận thanh toán từ phía KH của đơn vị được kiểm toán nhằm đảm bảo khoản doanh thu và khoản thu là hiện hữu. Ví dụ 2: Nếu rủi ro khai khống tiền gửi ngân hàng được đánh giá cao thì kểm toán viên không chỉ thu thập các chứng từ tiền gửi ngân hàng mà còn phải thu thập sổ phụ ngân hàng, thư xác nhận… Tuy nhiên, nhiều BCKT được thu thập không có nghĩa là chất lượng BCKT được đảm bảo bởi vì bằng chứng ấy có thể không liên quan đến cuộc kiểm toán.
Chính vì thế, KTV phải sử dụng xét đoán chuyên môn trong quá trình thu thập bằng chứng. KTV nên thu thập càng nhiều BCKT có ảnh hưởng trọng yếu đến cuộc kiểm toán mà cụ thể, khi xét đoán về tính đầy đủ của BCKT, KTV cần quan tâm đến các yếu tố sau: - Nguồn gốc và độ tin cậy của thông tin có sẵn. - Rủi ro sai sót tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. - Tính trọng yếu của các khoản mục.
- Hiểu biết của KTV về đơn vị và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ.