MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Đối với môn hóa học bài tập đóng vai trò rất quan trọng trong việc củng cố kiến thức và rèn luyện các kỹ năng. Do đó nắm vững các loại bài tập và biết cách giải chúng thì việc học môn hóa học trở nên rất đơn giản và dé dàng. Trong bài tập hóa học có rất nhiều dạng nhưng dạng thường gặp hơn là bài toán hỗn hợp các chất.
Vì vậy để hiểu rõ và nắm được các phương pháp giải bài toán hỗn hợp nên em chọn đề tài này. Mục đích của đề tài: Làm cho bài toán hỗn hợp trở nên gần gũi hơn, dễ hiểu hơn thông qua việc phân loại và nêu các phương pháp giải. Từ đó học sinh có thể giải bài tập một cách tự giác. Nhiệm vụ của đề tài: - Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp giải bài toán hỗn hợp - Nêu lên cách phân loại bài toán hỗn hợp.
-Trinh bày các phương pháp giải toán một cách khoa học, dé hiểu IV. Khách thể và đối tượng nghiên cứu; IV. Khách thể nghiên cứu: Là quá trình dạy và học môn hóa học ở trường phổ thông trung học IV. Đối tượng nghiên cứu: Nội dung bài toán hỗn hợp và các phương pháp giải bài toán hỗn hợp.
Giả thuyết khoa học: Nếu nắm được các phương pháp giải bài toán hỗn hợp một cách hoàn chỉnh và đúng đắng thì sẽ làm cho giáo viên, học sinh hiểu sâu hơn về bài tập hóa học và qua đó sẽ nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học ở nhà trường phổ thông trung học. - Trang 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP VỊ. Phương pháp nghiên cứu: - Nghiên cứu tham khảo các tài liệu có liên quan đến đề tài. - Phân tích tổng hợp rút ra các vấn đề cần thiết.
- Đưa ra các bài tập hợp lý để minh họa. Trang 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương | : „ ` CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN DE NGHIÊN CỨU I. Khái niệm về bài tập hoá học: Bài tập hóa học là những bài ra cho học sinh để tập vận dụng những điều đã học. Sau khi nghe giáo viên giảng bài xong, nếu học sinh nào giải được các bài tập mà giáo viên đưa ra thì có thể xem như học sinh đó đã lĩnh hội một cách tương đối những kiến thức do giáo viên truyền đạt.
Bài tập hóa học chính là những bài tập có liên quan đến hóa học. Nội dung của bài tập hóa học thông thường bao gồm những kiến thức chính yếu trong bài giảng. Bài tập hóa học có thể là những bài tập lý thuyết đơn giản chỉ yêu cầu học sinh nhớ và nhắc lại những kiến thức vừa học hoặc đã học xong nhưng cũng có thể là những bài tập tính toán liên quan đến cả kiến thức hóa học lẫn toán học, đôi khi bài toán tổng hợp yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức đã học từ trước kết hợp với những kiến thức vừa học để giải. Tùy vào mục đích của bài học mà bài tập có thể giải dưới nhiều hình thức và nhiều cách giải khác nhau II.
Tác dụng của bài tập hóa học: Giải bài tập hóa học chính là một trong những phương pháp tích cực nhất để kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh. Thông qua bài tập, giáo viên có thể phát hiện những sai sót yếu kém của học sinh mà qua đó có những kế hoạch rèn luyện kịp thời giúp học sinh vượt qua những khó khăn trong khi giải bài tập hóa học. Vì vậy bài tập hóa học có những tác dụng lớn sau: II. Làm cho học sinh hiểu sâu và khắc sâu kiến thức đã học: Thông qua việc giải bài tập hóa học, học sinh sẽ hiểu sâu hơn các khái niệm, định nghĩa, định luật.
mà các em đã học. Bài tập hóa học giúp cho học sinh nhớ lại tính chất của các chất, các phương trình phan ứng. + Trang 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 11. Cung cấp thêm những kiến thức mới và mở rộng sự hiểu biết mà không làm nặng nẻ khối lượng kiến thức của học sinh: Ngoài tác dụng củng cố các kiến thức đã học, bài tập hóa học còn cung cấp thêm những kiến thức mới, mở rộng sự hiểu biết của học sinh một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của học sinh.
Hệ thống hóa các kiến thức đã học: Đối với các bài tập có tác dụng hệ thống hóa các kiến thức cần đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp các kiến thức và sự hiểu biết có thể là những kiến thức vừa mới học hoặc là những kiến thức đã học từ trước. Thường xuyên ren luyện các kỹ năng, kỹ xảo về hóa học như: -Sử dụng ngôn ngữ hóa học. -Lập công thức, cân bằng phản ứng. -Tính theo công thức và phương trình.
-Các tính toán đại số: Quy tắt tam xuất, giải phương trình và hệ phương trình. -Kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau. Phát triển tư duy: Khi giải một bài tập hóa học, học sinh cần vận dụng các thao tác tư duy như: So sánh, quy nạp, diễn giải, loại suy, khái quát hoá. và học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học có liên quan đến dé bài để tìm ra cách giải tối ưu nhất.
Qua đó tư duy của học sinh được phát triển. Giáo dục tư tưởng đạo đức: Giải bài tập hóa học chính là rèn luyện cho học sinh tính kiên nhẫn, tính trung thực trong khoa học, tính cẩn thận, tính độc lập sáng tạo khi xử lý các vấn dé xảy ra, tính chính xác trong khoa học. Trong các trường hợp học sinh tự làm các bài tập tìm ra các phương pháp tối ưu để giải quyết, không vừa ý với cách làm tùy tiện, không hấp tấp tự mãn. Và như vậy thì lòng yêu thích đối với bộ môn được nâng lên.
Trang 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 11. Giáo dục kỹ năng tổng hợp: Riêng với bộ môn hóa học có nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Còn bài tập hóa học thì tạo điều kiện tốt cho nhiệm vụ giáo dục này phát triển vì những vấn để kỹ thuật của nên sản xuất được biến thành nội dung của bài tập hóa học. Bài tập hóa học còn cung cấp cho học sinh những số liệu mới về các phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng mà ngành sản xuất hóa học đạt được giúp học sinh hòa nhịp với sự phát triển khoa học kỹ thuật của thời đại mình đang sống.
Trang 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương 2 : 7 PHAN LOAI BAI TOAN HON HOP Bai toán hỗn hợp các chất thường xảy ra theo quan hệ “Thanh phần - Tổng” gồm ba đại lượng: Lượng tổng hỗn hợp, lượng chất thành phần và mối quan hệ giữa các chất thành phần với lượng tổng hỗn hợp hay giữa các chất thành phần với nhau. Muốn tìm một đại lượng thông thường phải biết hai đại lượng còn lại. Để phân loại bài tập một cách gần gũi và khoa học ta nên phân loại dựa vào phương pháp giải bài tập và nội dung của bài tập. -Bài toán hỗn hợp khí.
-Bài toán hỗn hợp lỏng. -Bài toán hỗn hợp rắn. -Bài toán hỗn hợp các chất tan trong dung dịch. -Bài toán hỗn hợp biện luận.
Trước khi đi sâu nghiên cứu từng loại cụ thể ta nên tìm hiểu một vấn dé rất quan trong trong khi giải bài toán hỗn hợp đó là: Dữ kiện trong bài toán hỗn hợp. Trang & LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương 3 : - DU KIEN TRONG BÀI TOÁN HON HỢP L. Các loại dữ kiện thường gặp trong bài toán hỗn hợp: I. Dữ kiện cơ bản (không thông qua phản ứng) - Tong khối lượng hỗn hợp - _ Tổng thể tích hỗn hợp (chỉ áp dụng đối với hỗn hợp khí) - Tổng số mol hỗn hợp - _ Tỉ số mol (đối với hỗn hợp khí cũng là tỉ thể tích) - Tỉ khối lượng - Phan tử lượng = Mnb ịh 1.
Dữ kiện phản ứng (thông qua phan ứng) Định lượng một chất phản ứng hoặc một sản phẩm đối với hỗn hợp đều là một dữ kiện toán. Cách xử lý các dữ kiện: Không phải bất cứ dữ kiện nào để bài cho ta cũng lập được phương trình, bất phương trình cần thiết mà ta phai xử lý các dữ kiện để đưa về bài toán cơ bản. Để xử lý các dữ kiện ta phải dựa vào các công thức tính số mol, công thức khối lượng phân tử trung bình , công thức nồng độ. Các công thức tinh số mol: - Nếu cho m (g) chất A (rắn, lỏng , khí) : Mạ Nếu cho V (lít) khí A ở ĐKTC ^ˆ_ 224 Trang 9 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Nếu cho V (lit) khí A ở nhiệt độ(t), áp suất p.V A — el RT 22,4 09341) 273 - Nếu cho V(lít) dung dich A (Cy) - Néucho m(g) dung dich A (Cy, d) Ns d.
Khối lượng phân tử trung bình: A( na) nạ, | BC ng) C( ne) Mẹ, = mattis + Me Ny + ng + nc M,. Quan hệ C%, Cy, d : Cụ C% = —M 10.d Trang 10 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 11. Tỉ khối: - - Tỉ khối hơi của Aso với B III. Cách đặt nghiệm số trong bài toán hỗn hợp: Dựa vào nội dung bai tập va dữ kiện dé bài cho ta phải đặt các nghiệm số sao cho phù hợp để dẫn đến việc hình thành các mối quan hệ dễ dàng nhất.
Đối với bài toán hỗn hợp khí, nếu các dữ kiện toán đều liên hệ với thể tích chất khí , ta gọi Vụ, V2, V3 là thành phần thể tích. Đối với bài toán hỗn hợp (khí, lỏng, rắn), nếu các dữ kiện toán liên quan đến phản ứng đều liên hệ với một thành phần duy nhất của hỗn hợp ta gọi m;, mạ, m; là thành phần khối lượng. Các bài toán còn lại ta gọi a, b, c là số mol. Cách giải quyết một bài toán hỗn hợp: Căn cứ vào dữ kiện bài toán mà việc giải quyết bài toán có thể đi theo một trong hai hướng sau.
-Trường hợp bài toán hỗn hợp đơn giản: Nếu trong bài toán có những nhóm đữ kiện tương ứng với từng thành phần A, B, C. thì cần sử dụng những nhóm dif kiện đó để tính lần lượt từng thành phân của hỗn hợp. -Trường hợp bài toán hỗn hợp phức tạp: Nếu trong bài toán có những dữ kiện liên quan đến tất cả các thành phần, thì cần thiết lập sự liên quan giữa các dữ kiện đó trong hệ các phương trình toán học. Trang 11 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chương 4: BÀI TOÁN HON HỢP KHÍ Trong chương trình hóa học phổ thông bài toàn hỗn hợp khí thuộc cả phần hoá vô cơ lẫn hóa hữu cơ.
Trong phan hóa h¿cơ bài toán hỗn hợp khí đa phần là hidrocacbon.