CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH GIÁ SẢN PHẨM TRONG XÂY DỰNG 1. Một số lý luận về hợp đồng và hợp đồng trong hoạt động xây dựng 1. Khái niệm hợp đồng Luật hợp đồng là một trong những luật lâu đời nhất liên quan đến hoạt động giao lưu dân sự, kinh doanh, thương mại. Nói một cách khác, nó đã tồn tại từ lúc khởi đầu của xã hội có tổ chức.
Nếu sự an toàn của con người, tài sản được đảm bảo trên cơ sở những quy định của luật hình sự thì sự an toàn và trật tự trong thế giới kinh doanh lại phụ thuộc vào luật hợp đồng. Nó là cỗ máy, công cụ pháp lý mà qua đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của con người được thực thi và đảm bảo, những cam kết được thực hiện và tôn trọng cho đến khi kết thúc, giúp cho luồng lưu thông hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của con người, xã hội và nền kinh tế. Ngay từ thời kỳ La Mã cổ đại, hợp đồng đã là một trong những nội dung quan trọng nhất của pháp luật về nghĩa vụ. Có thể nói những quan niệm và quy định của người La Mã cổ đại về dân luật nói chung và về hợp đồng nói riêng ngay từ đầu đã thể hiện được tính ưu việt trong tư tưởng pháp lý và trình độ lập pháp.
Nó đã trở thành cơ sở nền tảng cho sự phát triển của khoa học pháp lý trong nhiều hệ thống luật sau này. Trong pháp luật La Mã, hợp đồng được coi là hình thức thể hiện của các giao dịch song phương mà việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp đồng, pháp luật La Mã còn quy định các điều kiện cần đáp ứng để một hợp đồng được coi là có hiệu lực, bao gồm: Thứ nhất, ý chí đã thỏa thuận của các bên là điều kiện quan trọng để hợp đồng có hiệu lực. Thứ hai, nội dung hợp đồng phải hợp pháp, tức là nó không phải hành vi vi 16 phạm pháp luật và vi phạm đạo đức.
17 Thứ ba, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, hành vi trách nhiệm cũng cần phải được thể hiện cụ thể về mặt nội dung. Thứ tư, hành vi xác lập đối tượng trách nhiệm trong hợp đồng phải khả thi. Đối với những trách nhiệm không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền hay nghĩa vụ. Thứ năm, luật La Mã rất đề cao mục đích của hợp đồng.
Đối với hợp đồng liên quan đến mục đích kinh tế cụ thể thì nếu mục đích không được thực hiện thì hợp đồng cũng không có hiệu lực. Có thể thấy, từ rất sớm trong lịch sử lập pháp của loài người, khái niệm về hợp đồng đã được hình thành và khái niệm này hầu như đã khái quát được toàn bộ bản chất của hợp đồng cho đến nay. Các hệ thống pháp luật hiện đại sau này cũng có nhiều khái niệm khác nhau về hợp đồng nhưng tựu trung vẫn khó rời xa với khái niệm nguyên gốc về hợp đồng từ thời kỳ La Mã cổ đại. Bộ luật Napoleon của Pháp cũng là một trong những bộ luật lớn và được coi là bộ luật kinh điển nhất về dân luật.
Khái niệm về hợp đồng trong bộ luật Napoleon được quy định tại Điều 1011, theo đó: “Hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên về việc chuyển giao một vật, làm hay không làm của một công việc nào đó”. Theo quy định của Bộ luật dân sự Nhật Bản, hợp đồng được định nghĩa là: “Một loại giao dịch dân sự thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên. Mục đích của hợp đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ”. Tại Điều 2 Bộ luật dân sự Trung Quốc: “Hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng” Trong pháp luật của Philipin, hợp đồng được hiểu là “sự thống nhất ý chí giữa hai bên, theo đó, mỗi bên tự ràng buộc mình trên cơ sở tôn trọng bên kia để đưa một cái gì đó hoặc trả cho một dịch vụ nào đó”.
Trong luật của Mỹ, “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên có mục đích hợp pháp, theo đó, mỗi bên hành động theo cách xử sự nhất định hoặc cam kết làm hay không làm một việc theo xử sự đó”. 18 19 Khái niệm về hợp đồng dân sự được pháp luật Việt Nam nêu ra tại Điều 394 Bộ luật dân sự, theo đó: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Trên đây là một số trong rất nhiều khái niệm về hợp đồng, nhưng tựu trung có thể hiểu: Hợp đồng là một cam kết thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng miệng có thể có người làm chứng, nếu vi phạm hợp đồng hay không theo cam kết thì các bên có thể thương thảo, đàm phán hoặc sẽ cùng nhau ra tòa và bên thua sẽ chịu mọi phí tổn.
Bản chất pháp lý của hợp đồng Có thể thấy rất nhiều định nghĩa khác nhau về hợp đồng, tùy theo độ tương hợp mà các khía cạnh của hợp đồng sẽ được chú trọng tới ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tất cả những khái niệm cũng như nhận định về hợp đồng đều phản ánh một quan niệm thống nhất về bản chất của hợp đồng. Đó là sự vấn kết chặt chẽ của hai yếu tố: Thứ nhất là sự thỏa thuận: đây là yếu tố thể hiện sự thống nhất trong việc bày tỏ ý chí của các bên. Thứ hai là mục đích của sự thỏa thuận: mục đích của việc thiết lập quan hệ hợp đồng là nhằm làm phát sinh một hậu quả pháp lý.
Hậu quả pháp lý này tùy theo quan niệm của mỗi nước mà có thể là xác lập nghĩa vụ, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ. Mọi quan hệ đảm bảo các yếu tố trên về bản chất đã được coi là quan hệ hợp đồng không phụ thuộc vào mục đích ký kết, chủ thể tham gia hay hình thức thể hiện. Ngoài ra khái niệm và các quy phạm pháp luật hợp đồng của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phản ánh các quan điểm lý luận về sự tự do ý chí trong thỏa thuận hợp đồng như là một căn cứ xác lập và cấu thành nên bản chất của quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, vấn đề tự do ý chí trong hợp đồng cần được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý mới có thể phản ánh đúng đắn được bản chất của hợp đồng.
Thuyết tự do ý chí trong giao kết hợp đồng xuất hiện từ thế ký XVIII và nằm 20 trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng. Một số người cho rằng 21 quan điểm này của Kant, nhà triết học người Đức đưa ra. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng ý chí của con người là tối thượng và tự do. Chỉ có các hành vi xuất phát từ ý chí của một người mới có hiệu lực ràng buộc đối với người đó.
Một người chỉ bị ràng buộc khi người đó muốn như vậy và ràng buộc theo cách mà người đó muốn. Hệ quả pháp lý của nguyên tắc tự do ý chí Nguyên tắc cơ bản nhất về giao kết hợp đồng là nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng. Nguyên tắc này thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, hợp đồng phải là kết quả của sự thỏa thuận tự nguyện của các bên thực hiện một cách rõ ràng. Chỉ cần các bên đạt được thỏa thuận với nhau, hợp đồng coi như được giao kết.
Thứ hai, các bên tự do xác định nội dung của hợp đồng. Các quy định về trật tự công chỉ được áp dụng trong các trường hợp ngoại lệ. Hiệu lực của hợp đồng Nguyên tắc hiệu lực áp dụng bắt buộc của hợp đồng khi hợp đồng được giao kết, các bên có nghĩa vụ phải tôn trọng các nội dung quy định trong hợp đồng, không được đơn phương rút khỏi hợp đồng. Hợp đồng có hiệu lực bắt buộc ngay cả đối với tòa án.
Về sau này, người ta nhận ra rằng, trong một xã hội có tổ chức, có nhà nước và pháp luật, các bên không thể tự do hợp đồng một cách tuyệt đối bởi cao hơn nữa là lợi ích chung của cộng đồng và trật tự công của xã hội. Ví dụ, lợi ích công yêu cầu các bên không được phép tham gia vào những hợp đồng làm cản trở sự cạnh tranh hoặc kìm hãm thương mại. Xét trên bình diện lý luận, người ta cho rằng chỉ riêng ý chí của các chủ thể chưa đủ để trở thành nguồn làm phát sinh cam kết. Ý chí của chủ thể chỉ trở thành nguồn của cam kết khi có pháp luật quy định.
Như vậy, pháp luật là nguồn đầu tiên của cam kết hợp đồng. Xét trên bình diện thực tiễn kinh tế - xã hội: tự do ý chí và hệ quả pháp lý của nó là tự do giao kết hợp đồng chưa đủ để đảm bảo sự công bằng, thực tế cho 22 23 thấy hợp đồng vẫn thường được sử dụng như một phương tiện để một người buộc một người khác phải phụ thuộc vào mình. Trong mối quan hệ giữa một bên yếu và một bên mạnh, ý chí sẽ tạo ra sự lệ thuộc còn pháp luật sẽ giải phóng họ. Sự thiếu cân bằng trong quyền lực và khả năng thương lượng của các bên đòi hỏi phải có sự can thiệp nhất định của pháp luật nhằm kiểm soát các điều khoản và các quy định của hợp đồng.
Kết quả là chúng ta có sự ổn định cần thiết về giới hạn tự do hợp đồng trong một số lĩnh vực nhât định. Ý tưởng cơ bản ở đây không phải là phủ nhận vai trò của ý chí trong hợp đồng mà tránh tuyệt đối hóa vai trò ý chí của các chủ thể giao kết hợp đồng. Hiện nay, trong phần lớn các quy phạm pháp luật hợp đồng đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của thuyết tự do ý chí. Tuy vậy, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các quy định của pháp luật không còn thuần túy chịu ảnh hưởng của thuyết tự do ý chí mà ngày càng mang thuộc tính trật tự công.