1521 dạy học môn kỹ thuật may 2 cho sinh viên cao đẳng theo tiếp cận mục tiêu luận văn tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu 1521 dạy học môn kỹ thuật may 2 cho sinh viên cao đẳng theo tiếp cận mục tiêu luận văn tốt nghiệp, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Công nghệ may

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
227
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học là trọng tâm của nghiên cứu, đặc biệt trong việc áp dụng tiếp cận mục tiêu vào môn Kỹ thuật may 2. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc thiết kế chương trình giảng dạy dựa trên mục tiêu đào tạo cụ thể, đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Phương pháp giảng dạy truyền thống đã không còn phù hợp trong bối cảnh công nghệ hiện đại, đòi hỏi sự đổi mới trong cách tiếp cận. Nghiên cứu đề xuất các nguyên tắc và quy trình dạy học theo tiếp cận mục tiêu, giúp sinh viên phát triển kỹ năng maykỹ năng thực hành một cách hiệu quả.

1.1. Thiết kế mục tiêu dạy học

Việc xây dựng mục tiêu dạy học là bước đầu tiên trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy. Nghiên cứu chỉ ra rằng mục tiêu cần được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Tiếp cận mục tiêu giúp giảng viên thiết kế chương trình học tập định hướng, đảm bảo sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tế sau khi tốt nghiệp.

1.2. Phương pháp thực hành

Kỹ thuật thực hành là yếu tố quan trọng trong môn Kỹ thuật may 2. Nghiên cứu đề xuất việc tăng cường thời gian thực hành, kết hợp với các chuyến tham quan cơ sở may công nghiệp. Điều này giúp sinh viên hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất và nâng cao kỹ năng may của mình.

II. Kỹ thuật may 2 và sinh viên cao đẳng

Môn Kỹ thuật may 2 đóng vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo ngành Công nghệ may tại các trường cao đẳng. Nghiên cứu tập trung vào việc cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu của sinh viên cao đẳng. Giáo dục kỹ thuật hiện đại đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp sinh viên phát triển toàn diện các kỹ năng cần thiết.

2.1. Đặc điểm đào tạo ngành may

Ngành may công nghiệp đòi hỏi lao động có kỹ năng may chuyên sâu và khả năng làm việc nhóm. Nghiên cứu chỉ ra rằng chương trình đào tạo hiện tại cần được điều chỉnh để phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm và yêu cầu của doanh nghiệp. Đào tạo kỹ thuật cần tập trung vào việc phát triển năng lực thực hành và khả năng thích ứng với môi trường làm việc thực tế.

2.2. Cải tiến chương trình đào tạo

Nghiên cứu đề xuất việc điều chỉnh chương trình đào tạo môn Kỹ thuật may 2 theo hướng tiếp cận mục tiêu. Các nội dung giảng dạy cần được cập nhật, phản ánh sự tiến bộ của công nghệ may công nghiệp. Điều này giúp sinh viên nắm bắt được các kỹ thuật mới và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

III. Tiếp cận mục tiêu và luận văn tốt nghiệp

Tiếp cận mục tiêu là phương pháp dạy học hiệu quả, đặc biệt trong việc chuẩn bị cho luận văn tốt nghiệp của sinh viên. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu học tập rõ ràng, giúp sinh viên định hướng nghiên cứu và phát triển kỹ năng chuyên môn. Học tập định hướng theo mục tiêu giúp sinh viên đạt được kết quả tốt trong quá trình học tập và nghiên cứu.

3.1. Xây dựng mục tiêu nghiên cứu

Việc xác định mục tiêu nghiên cứu là bước quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp. Nghiên cứu đề xuất các phương pháp giúp sinh viên xây dựng mục tiêu nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành và nhu cầu thực tế. Tiếp cận mục tiêu giúp sinh viên tập trung vào các vấn đề trọng tâm, nâng cao chất lượng nghiên cứu.

3.2. Đánh giá kết quả học tập

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp đánh giá như phương pháp chuyên giaphương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra hiệu quả của tiếp cận mục tiêu. Kết quả cho thấy sinh viên được đào tạo theo phương pháp này có kết quả học tập tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ngày nay, khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển rất nhanh chóng, công nghệ SX thay đổi cũng nhanh chóng. Do đó việc ĐT nguồn nhân lực đáp ứng với sự thay đổi đó phải có cách nhìn, cách nghĩ, cách tiếp cận mới. Các nghiên cứu ĐT nguồn nhân lực mới đều hướng tới đáp ứng với thực tế sản xuất và đời sống.

Đây chính là MT chung của lĩnh vực ĐT nghề nghiệp. Các nghiên cứu đều hướng vào ĐT theo tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH), ĐT theo tiếp cận đầu ra, ĐT theo tiếp cận kinh tế thị trường, ĐT cái mà xã hội cần… Đây chính là MT hướng tới của ĐT. Nhưng xác định MTĐT sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội là công việc không đơn giản. Nếu MTĐT không phù hợp với nhu cầu xã hội thì dù cho nhà trường có cố gắng ĐT cho đạt MT đã đề ra, nhưng học sinh sinh viên (HSSV) sau khi tốt nghiệp - sản phẩm của trường - vẫn không được người sử dụng chấp nhận.

Vì vậy, xây dựng MT cần đảm bảo có sự phù hợp tối đa giữa MTĐT của trường (chất lượng bên trong) và nhu cầu xã hội (chất lượng bên ngoài). Tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia, việc xác định MTĐT nghề nghiệp có những yêu cầu riêng. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới Tại Mỹ: văn phòng giáo dục người lớn và nghề nghiệp thuộc Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm quản lí và điều phối các chương trình cấp quốc gia liên quan đến giáo dục (GD) người lớn, GD nghề nghiệp và các trường CĐ cộng đồng. Chính quyền các bang chịu trách nhiệm tổ chức và quản lí GD nghề nghiệp.

Mỗi tiểu bang có một ban GD nghề nghiệp, nhưng việc tổ chức và quản lí không giống nhau. Giám đốc phụ trách GD nghề nghiệp của bang này có thể 8 thuộc ngành GD nhưng ở bang khác có thể là người của ban phát triển nguồn nhân lực [59]. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện ĐT nghề theo mục tiêu NLTH. Khái niệm ĐT theo NLTH xuất hiện ở Mỹ từ những năm 60 của thế kỉ trước.

Đầu những năm 70, ĐT theo mục tiêu NLTH được quan tâm nhiều hơn. Văn phòng GD Mỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm thông qua hiệp hội quốc gia CBEC (National consortium of Competency Based Education Centres) đã đưa ra bảng tiêu chí mô tả và đánh giá chương trình NLTH [69]. Đây chính là mô tả MT và đánh giá theo mục tiêu NLTH. Tại Anh: vào những năm 80 của thế kỉ trước đã công bố một số sách trắng (Bộ Năng lượng và DES, 1984, 1985, 1986) nêu lên những ưu điểm của ĐT theo NLTH trong ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu quả ĐT tốt hơn [9], [67].

Shirley Fletcher (1995) với tác phẩm “Kỹ thuật đánh giá theo mục tiêu năng lực” đã đề xuất nguyên tắc và các phương pháp, kĩ thuật đánh giá theo MT năng lực, hướng dẫn việc đánh giá dựa trên công việc cụ thể MT đầu ra của sự DH. Đầu thập niên 1980 đã cho công bố nhiều sách trắng (DOE, 1981, Bộ Năng lượng và DES, 1984,1985,1986), trong đó nêu lên những ưu điểm của ĐT theo MT năng lực trong GD và ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu suất ĐT tốt hơn [9], [50]. Tại Australia: cuối những năm 80 của thế kỉ trước đã bắt đầu cải cách ĐT nghề, thiết lập quan điểm ĐT theo NLTH, xây dựng các hội đồng quốc gia đánh giá kết quả ĐT theo NLTH [57]. Cuối những năm 80 của thế kỉ trước là thời kì mà việc ĐT các KN nghề theo NLTH (hiểu là MTĐT kĩ năng nghề theo yêu cầu hoạt động thực tế nghề nghiệp) được nghiên cứu bài bản và được ứng dụng rộng rãi tại Mỹ, Canada, New Jealand, Scotland.

Trong đó phải kể đến các công trình của Burke John 9 W. Các công trình của Finch Curtis. Bland (1982) [68] trình bày quan điểm ĐT mới và phát triển chương trình ĐT nghề theo MT phát triển năng lực kĩ thuật. Các công trình này mô tả một phương thức mới ĐT nghề theo tiếp cận mục tiêu NLTH có nhiều ưu điểm nổi bật, đặc biệt là phù hợp với thực tiễn hoạt động nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu xã hội.

Ngày nay, có nhiều công trình nghiên cứu về ĐT nghề theo mục tiêu đào tạo NLTH – năng lực hành nghề hoặc đặt MT đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu của SX, yêu cầu của xã hội. Có thể kể một số công trình như: Tác phẩm Giáo dục và đào tạo theo NLTH (Competency Based Education and Training, CBET) của Finch Crurtis R. ; tác phẩm giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện theo NLTH (Handbook of competency Mapping) của tập thể tác giả [71]. Tại Cộng hòa liên bang Đức: Mục đích ĐT nghề nghiệp của Đức là thực hiện mô hình ĐT kép để thực hiện mục đích gắn ĐT tại nhà trường và hệ thống sử dụng lao động được ĐT (các nhà máy, xí nghiệp); là sự liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động và sự tham gia đáng kể của khu vực tư nhân.

Thời gian ĐT nghề dài hay ngắn phụ thuộc vào kinh nghiệm nghề nghiệp mà người học có từ trước đó, có thể kéo dài một năm (toàn thời gian ĐT) hoặc lên đến ba năm (bán thời gian ĐT). Với mô hình ĐT kép, hệ thống dạy nghề ở Đức nổi tiếng vào bậc nhất trên thế giới ở khía cạnh gắn liền lí thuyết với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp vì chính doanh nghiệp cũng góp phần (kinh phí và giảng dạy) trong quá trình ĐT nghề. Như vậy, nhà trường sẽ đóng vai trò trang bị KT lí thuyết 10 nghề nghiệp chuyên môn, còn doanh nghiệp trang bị KN và phương pháp lập kế hoạch cho công việc; vận dụng lí thuyết đã học vào thực tiễn tại DN. Tổ chức InWent của Đức đã giới thiệu về ĐT nghề theo MT năng lực – MT đầu ra trong tài liệu hội thảo chủ đề “Đào tạo theo năng lực” (Competency-Based Training) tháng 11 năm 2013.

Trong tài liệu này đã giới thiệu đa dạng các mô hình ĐT nghề, phát triển chương trình và quản lí ĐT theo MT năng lực đầu ra. Tại các nước phát triển như Canada, Singapore, Hàn Quốc, Phần Lan đều đặt MTĐT nghề đáp ứng được sự phát triển kinh tế thị trường, gắn với thực tế hoạt động nghề nghiệp của người học sau ra trường. Một số công trình về lĩnh vực này chẳng hạn, công trình GD và ĐT theo MT năng lực (đầu ra) của Finch Curtis [70]. Công trình này tập hợp bài viết của nhiều tác giả giới thiệu về CBET và nguồn gốc, các mô hình GD và ĐT nghề, phát triển chương trình ĐT.

Công trình “Handbook of Competency Mapping” giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện ĐT nghề theo MT năng lực của Seema Sanghi [71]. Tại Canada: theo nguyên Bộ trưởng Bộ Hợp tác quốc tế Beverley J.Oda Honourable thì “Một lực lượng có tay nghề sẽ tăng cường nền tảng cho doanh nghiệp, các ngành Công nghiệp cũng như tăng cường ổn định xã hội của cộng đồng. Trong sự phát triển quốc gia, giáo dục cơ bản chỉ là bước đầu tiên cho những người lao động mà họ cần được đào tạo kĩ năng nghề với kĩ thuật chất lượng cao để tham gia vào sản xuất” [77]. Canada đang đầu tư trong lĩnh vực GD kĩ thuật và ĐT nghề, gắn ĐT với nhu cầu thị trường, tăng cường mối liên kết giữa các tổ chức dạy nghề Canada với các nước đang phát triển.

Hiệu quả của GD kĩ thuật và ĐT nghề ở Canada đã góp phần tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng thị trường lao động của địa phương và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Canada đã thành công trong GD kĩ thuật và 11 ĐT nghề nhờ có sự tham gia một phần của khu vực tư nhân và đảm bảo được sự gắn kết giữa ĐT và nhu cầu thị trường lao động. Tại Singapore: sự phát triển quan trọng nhất trong lịch sử ĐT nghề ở Singapore là vào năm 1992, Viện GD kĩ thuật (ITE) thuộc Bộ Giáo dục được thành lập. Viện GD là một phần của hệ thống GD quốc dân, với nhiệm vụ “tối đa hóa tiềm năng con người ở Singapore thông qua giáo dục kĩ thuật và đào tạo” để phát triển chất lượng của lực lượng lao động, giúp Singapore tăng cường cạnh tranh toàn cầu.

Chức năng chính của ITE là thúc đẩy và ĐT kĩ thuật cho học sinh (HS) các trường trung học sau khi tốt nghiệp; ĐT, bồi dưỡng kĩ thuật cho lực lượng lao động thông qua GD thường xuyên và ĐT, quản lí cấp chứng nhận tiêu chuẩn kĩ năng kĩ thuật [78; 79]. Tại Hàn Quốc: từ những năm 1980 - 1990, tuyển sinh trong các trường CĐ nghề tăng lên rõ rệt. Để tăng cường sự liên kết giữa các trường và các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực GD kĩ thuật nghề nghiệp, HS sau 2 năm học nghề tại trường học sẽ có 1 năm được ĐT thực tế tại các công ty. Từ năm 1996, chương trình cải cách GD (bao gồm cả việc cải cách GD nghề nghiệp) được Ủy ban cải cách GD (PCER) đề xuất.

Mục tiêu cải cách GD nghề nghiệp là thiết lập một hệ thống dạy nghề dài hạn. Để khuyến khích DN tự ĐT, Chính phủ đã giới thiệu đề án phát triển năng lực dạy nghề cùng với việc ban hành Luật đào tạo nghề vào năm 1999. Theo Luật đào tạo nghề, DN vừa là nơi sản xuất kinh doanh, vừa là nơi ĐT dạy nghề [80]. Theo quan niệm của UNESCO: yêu cầu đối với sản phẩm ĐT đại học (người tốt nghiệp) trong thời đại hiện nay phải đạt các MT: - Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng.

- Có khả năng hành động (các kĩ năng sống) để có thể lập nghiệp. - Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên, suốt đời. 12 - Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, văn hóa toàn cầu.) để có khả năng hội nhập. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường ĐH quốc tế thì SV phải là những người: - Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để bảo đảm tính chuẩn mực, khuôn mẫu.

- Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. - Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều được định sẵn. - Biết đặt ra những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương pháp dạy học môn kỹ thuật may 2 cho sinh viên cao đẳng theo tiếp cận mục tiêu luận văn tốt nghiệp" trình bày các phương pháp giảng dạy hiệu quả trong lĩnh vực kỹ thuật may, nhằm giúp sinh viên cao đẳng nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích sinh viên tham gia vào quá trình học tập và phát triển tư duy phản biện.

Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các phương pháp dạy học khác nhau qua tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm cho học sinh trong dạy học lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông tỉnh kon tum, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm. Bên cạnh đó, tài liệu Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học luận văn thạc sĩ sư phạm toán học cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp dạy học sáng tạo. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ thiết kế tình huống dạy học hiệu quả môn toán ở tiểu học sẽ cung cấp thêm thông tin về việc thiết kế tình huống dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp dạy học hiện đại và hiệu quả.