Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN MỤC TIÊU 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ngày nay, khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển rất nhanh chóng, công nghệ SX thay đổi cũng nhanh chóng. Do đó việc ĐT nguồn nhân lực đáp ứng với sự thay đổi đó phải có cách nhìn, cách nghĩ, cách tiếp cận mới. Các nghiên cứu ĐT nguồn nhân lực mới đều hướng tới đáp ứng với thực tế sản xuất và đời sống.
Đây chính là MT chung của lĩnh vực ĐT nghề nghiệp. Các nghiên cứu đều hướng vào ĐT theo tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH), ĐT theo tiếp cận đầu ra, ĐT theo tiếp cận kinh tế thị trường, ĐT cái mà xã hội cần… Đây chính là MT hướng tới của ĐT. Nhưng xác định MTĐT sao cho phù hợp với nhu cầu xã hội là công việc không đơn giản. Nếu MTĐT không phù hợp với nhu cầu xã hội thì dù cho nhà trường có cố gắng ĐT cho đạt MT đã đề ra, nhưng học sinh sinh viên (HSSV) sau khi tốt nghiệp - sản phẩm của trường - vẫn không được người sử dụng chấp nhận.
Vì vậy, xây dựng MT cần đảm bảo có sự phù hợp tối đa giữa MTĐT của trường (chất lượng bên trong) và nhu cầu xã hội (chất lượng bên ngoài). Tùy theo đặc thù của mỗi quốc gia, việc xác định MTĐT nghề nghiệp có những yêu cầu riêng. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới Tại Mỹ: văn phòng giáo dục người lớn và nghề nghiệp thuộc Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm quản lí và điều phối các chương trình cấp quốc gia liên quan đến giáo dục (GD) người lớn, GD nghề nghiệp và các trường CĐ cộng đồng. Chính quyền các bang chịu trách nhiệm tổ chức và quản lí GD nghề nghiệp.
Mỗi tiểu bang có một ban GD nghề nghiệp, nhưng việc tổ chức và quản lí không giống nhau. Giám đốc phụ trách GD nghề nghiệp của bang này có thể 8 thuộc ngành GD nhưng ở bang khác có thể là người của ban phát triển nguồn nhân lực [59]. Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện ĐT nghề theo mục tiêu NLTH. Khái niệm ĐT theo NLTH xuất hiện ở Mỹ từ những năm 60 của thế kỉ trước.
Đầu những năm 70, ĐT theo mục tiêu NLTH được quan tâm nhiều hơn. Văn phòng GD Mỹ hỗ trợ xúc tiến việc làm thông qua hiệp hội quốc gia CBEC (National consortium of Competency Based Education Centres) đã đưa ra bảng tiêu chí mô tả và đánh giá chương trình NLTH [69]. Đây chính là mô tả MT và đánh giá theo mục tiêu NLTH. Tại Anh: vào những năm 80 của thế kỉ trước đã công bố một số sách trắng (Bộ Năng lượng và DES, 1984, 1985, 1986) nêu lên những ưu điểm của ĐT theo NLTH trong ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu quả ĐT tốt hơn [9], [67].
Shirley Fletcher (1995) với tác phẩm “Kỹ thuật đánh giá theo mục tiêu năng lực” đã đề xuất nguyên tắc và các phương pháp, kĩ thuật đánh giá theo MT năng lực, hướng dẫn việc đánh giá dựa trên công việc cụ thể MT đầu ra của sự DH. Đầu thập niên 1980 đã cho công bố nhiều sách trắng (DOE, 1981, Bộ Năng lượng và DES, 1984,1985,1986), trong đó nêu lên những ưu điểm của ĐT theo MT năng lực trong GD và ĐT nghề như chương trình linh hoạt hơn, hiệu suất ĐT tốt hơn [9], [50]. Tại Australia: cuối những năm 80 của thế kỉ trước đã bắt đầu cải cách ĐT nghề, thiết lập quan điểm ĐT theo NLTH, xây dựng các hội đồng quốc gia đánh giá kết quả ĐT theo NLTH [57]. Cuối những năm 80 của thế kỉ trước là thời kì mà việc ĐT các KN nghề theo NLTH (hiểu là MTĐT kĩ năng nghề theo yêu cầu hoạt động thực tế nghề nghiệp) được nghiên cứu bài bản và được ứng dụng rộng rãi tại Mỹ, Canada, New Jealand, Scotland.
Trong đó phải kể đến các công trình của Burke John 9 W. Các công trình của Finch Curtis. Bland (1982) [68] trình bày quan điểm ĐT mới và phát triển chương trình ĐT nghề theo MT phát triển năng lực kĩ thuật. Các công trình này mô tả một phương thức mới ĐT nghề theo tiếp cận mục tiêu NLTH có nhiều ưu điểm nổi bật, đặc biệt là phù hợp với thực tiễn hoạt động nghề nghiệp và đáp ứng yêu cầu xã hội.
Ngày nay, có nhiều công trình nghiên cứu về ĐT nghề theo mục tiêu đào tạo NLTH – năng lực hành nghề hoặc đặt MT đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu của SX, yêu cầu của xã hội. Có thể kể một số công trình như: Tác phẩm Giáo dục và đào tạo theo NLTH (Competency Based Education and Training, CBET) của Finch Crurtis R. ; tác phẩm giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện theo NLTH (Handbook of competency Mapping) của tập thể tác giả [71]. Tại Cộng hòa liên bang Đức: Mục đích ĐT nghề nghiệp của Đức là thực hiện mô hình ĐT kép để thực hiện mục đích gắn ĐT tại nhà trường và hệ thống sử dụng lao động được ĐT (các nhà máy, xí nghiệp); là sự liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động và sự tham gia đáng kể của khu vực tư nhân.
Thời gian ĐT nghề dài hay ngắn phụ thuộc vào kinh nghiệm nghề nghiệp mà người học có từ trước đó, có thể kéo dài một năm (toàn thời gian ĐT) hoặc lên đến ba năm (bán thời gian ĐT). Với mô hình ĐT kép, hệ thống dạy nghề ở Đức nổi tiếng vào bậc nhất trên thế giới ở khía cạnh gắn liền lí thuyết với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp vì chính doanh nghiệp cũng góp phần (kinh phí và giảng dạy) trong quá trình ĐT nghề. Như vậy, nhà trường sẽ đóng vai trò trang bị KT lí thuyết 10 nghề nghiệp chuyên môn, còn doanh nghiệp trang bị KN và phương pháp lập kế hoạch cho công việc; vận dụng lí thuyết đã học vào thực tiễn tại DN. Tổ chức InWent của Đức đã giới thiệu về ĐT nghề theo MT năng lực – MT đầu ra trong tài liệu hội thảo chủ đề “Đào tạo theo năng lực” (Competency-Based Training) tháng 11 năm 2013.
Trong tài liệu này đã giới thiệu đa dạng các mô hình ĐT nghề, phát triển chương trình và quản lí ĐT theo MT năng lực đầu ra. Tại các nước phát triển như Canada, Singapore, Hàn Quốc, Phần Lan đều đặt MTĐT nghề đáp ứng được sự phát triển kinh tế thị trường, gắn với thực tế hoạt động nghề nghiệp của người học sau ra trường. Một số công trình về lĩnh vực này chẳng hạn, công trình GD và ĐT theo MT năng lực (đầu ra) của Finch Curtis [70]. Công trình này tập hợp bài viết của nhiều tác giả giới thiệu về CBET và nguồn gốc, các mô hình GD và ĐT nghề, phát triển chương trình ĐT.
Công trình “Handbook of Competency Mapping” giới thiệu về mô hình tổ chức, thiết kế và thực hiện ĐT nghề theo MT năng lực của Seema Sanghi [71]. Tại Canada: theo nguyên Bộ trưởng Bộ Hợp tác quốc tế Beverley J.Oda Honourable thì “Một lực lượng có tay nghề sẽ tăng cường nền tảng cho doanh nghiệp, các ngành Công nghiệp cũng như tăng cường ổn định xã hội của cộng đồng. Trong sự phát triển quốc gia, giáo dục cơ bản chỉ là bước đầu tiên cho những người lao động mà họ cần được đào tạo kĩ năng nghề với kĩ thuật chất lượng cao để tham gia vào sản xuất” [77]. Canada đang đầu tư trong lĩnh vực GD kĩ thuật và ĐT nghề, gắn ĐT với nhu cầu thị trường, tăng cường mối liên kết giữa các tổ chức dạy nghề Canada với các nước đang phát triển.
Hiệu quả của GD kĩ thuật và ĐT nghề ở Canada đã góp phần tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao, đáp ứng thị trường lao động của địa phương và cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Canada đã thành công trong GD kĩ thuật và 11 ĐT nghề nhờ có sự tham gia một phần của khu vực tư nhân và đảm bảo được sự gắn kết giữa ĐT và nhu cầu thị trường lao động. Tại Singapore: sự phát triển quan trọng nhất trong lịch sử ĐT nghề ở Singapore là vào năm 1992, Viện GD kĩ thuật (ITE) thuộc Bộ Giáo dục được thành lập. Viện GD là một phần của hệ thống GD quốc dân, với nhiệm vụ “tối đa hóa tiềm năng con người ở Singapore thông qua giáo dục kĩ thuật và đào tạo” để phát triển chất lượng của lực lượng lao động, giúp Singapore tăng cường cạnh tranh toàn cầu.
Chức năng chính của ITE là thúc đẩy và ĐT kĩ thuật cho học sinh (HS) các trường trung học sau khi tốt nghiệp; ĐT, bồi dưỡng kĩ thuật cho lực lượng lao động thông qua GD thường xuyên và ĐT, quản lí cấp chứng nhận tiêu chuẩn kĩ năng kĩ thuật [78; 79]. Tại Hàn Quốc: từ những năm 1980 - 1990, tuyển sinh trong các trường CĐ nghề tăng lên rõ rệt. Để tăng cường sự liên kết giữa các trường và các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực GD kĩ thuật nghề nghiệp, HS sau 2 năm học nghề tại trường học sẽ có 1 năm được ĐT thực tế tại các công ty. Từ năm 1996, chương trình cải cách GD (bao gồm cả việc cải cách GD nghề nghiệp) được Ủy ban cải cách GD (PCER) đề xuất.
Mục tiêu cải cách GD nghề nghiệp là thiết lập một hệ thống dạy nghề dài hạn. Để khuyến khích DN tự ĐT, Chính phủ đã giới thiệu đề án phát triển năng lực dạy nghề cùng với việc ban hành Luật đào tạo nghề vào năm 1999. Theo Luật đào tạo nghề, DN vừa là nơi sản xuất kinh doanh, vừa là nơi ĐT dạy nghề [80]. Theo quan niệm của UNESCO: yêu cầu đối với sản phẩm ĐT đại học (người tốt nghiệp) trong thời đại hiện nay phải đạt các MT: - Có năng lực trí tuệ và có khả năng sáng tạo và thích ứng.
- Có khả năng hành động (các kĩ năng sống) để có thể lập nghiệp. - Có năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên, suốt đời. 12 - Có năng lực quốc tế (ngoại ngữ, văn hóa toàn cầu.) để có khả năng hội nhập. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường ĐH quốc tế thì SV phải là những người: - Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để bảo đảm tính chuẩn mực, khuôn mẫu.
- Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. - Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều được định sẵn. - Biết đặt ra những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng.