Nghiên Cứu Phương Pháp Dạy Bài Thơ “Qua Đèo Ngang” Của Bà Huyện Thanh Quan

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued dạy học bài thơ qua đèo ngang của bà huyện thanh quan theo hướng khai thác thi pháp tác giả, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG THI PHÁP TÁC GIẢ VÀ THI PHÁP TÁC PHẨM VÀO DẠY HỌC BÀI THƠ “QUA ĐÈO NGANG” CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN

1.1. Một số vấn đề về thi pháp học

1.2. Thi pháp thơ Nôm Đường luật Trung đại

1.3. Kết luận thực trạng

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY VÀ HỌC BÀI THƠ “QUA ĐÈO NGANG” CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN DƯỚI GÓC NHÌN THI PHÁP HỌC

2.1. Những yêu cầu đối với giáo viên khi dạy bài thơ Qua Đèo Ngang

2.2. Đề xuất những biện pháp dạy học tác phẩm Qua Đèo Ngang dưới góc nhìn thi pháp học

2.2.1. Vận dụng kỹ năng đọc chính xác ngôn từ nghệ thuật của bài thơ để bình giá những đặc điểm của thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm

2.2.2. Hướng dẫn học sinh kỹ năng đọc phân tích đặc trưng chung trong một số tác phẩm của Bà Huyện Thanh Quan để tìm cách lý giải giá trị thời thế và nhân thế trong bài thơ Qua Đèo Ngang

2.2.3. Hướng dẫn học sinh kỹ năng đọc sáng tạo để hiểu giá trị biểu cảm của cái tôi trữ tình được bộc lộ trong tâm hồn lớn của Bà Huyện Thanh Quan

2.2.4. Hướng dẫn học sinh đọc tích lũy để lĩnh hội giá trị nhân văn của bài thơ qua tâm hồn lớn của Bà Huyện Thanh Quan

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM DẠY BÀI THƠ “QUA ÐÈO NGANG” CỦA BÀ HUYỆN THANH QUAN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm

3.2.1. Đối tượng thực nghiệm

3.2.2. Địa bàn thực nghiệm

3.2.3. Thời gian thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm

3.5. Giáo án thực nghiệm

3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phương Pháp Dạy Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan

Bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một nguồn tài liệu phong phú cho việc giảng dạy văn học. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp học sinh tiếp cận và cảm nhận sâu sắc hơn về nội dung và hình thức của bài thơ. Để đạt được điều này, cần có những phương pháp giảng dạy phù hợp, giúp học sinh không chỉ hiểu mà còn cảm nhận được giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

1.1. Tổng Quan Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Bài thơ "Qua Đèo Ngang" được sáng tác trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, phản ánh tâm tư của tác giả về quê hương và nỗi nhớ nhà. Nội dung bài thơ không chỉ đơn thuần là miêu tả cảnh vật mà còn chứa đựng những suy tư sâu sắc về cuộc sống và con người. Việc hiểu rõ về bối cảnh sáng tác sẽ giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm.

1.2. Ý Nghĩa Của Bài Thơ Trong Văn Học Việt Nam

Bài thơ "Qua Đèo Ngang" không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Tác phẩm thể hiện tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời phản ánh những giá trị truyền thống của dân tộc. Việc phân tích ý nghĩa của bài thơ sẽ giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị văn học và văn hóa của dân tộc.

II. Thách Thức Trong Việc Dạy Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Việc dạy bài thơ "Qua Đèo Ngang" gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc giúp học sinh tiếp cận và cảm nhận tác phẩm. Nhiều học sinh hiện nay có xu hướng chán nản với văn học cổ điển, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức không hiệu quả. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Cận Nội Dung

Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung và ý nghĩa của bài thơ do ngôn ngữ cổ điển và hình ảnh phong phú. Việc sử dụng ngôn ngữ hiện đại và các phương pháp giảng dạy sáng tạo sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp cận hơn.

2.2. Thiếu Hứng Thú Trong Việc Học Văn

Sự thiếu hứng thú trong việc học văn là một vấn đề lớn. Học sinh thường không cảm nhận được giá trị của văn học cổ điển, dẫn đến việc không chú ý trong giờ học. Cần có những biện pháp khuyến khích và tạo động lực cho học sinh để họ yêu thích môn học này hơn.

III. Phương Pháp Giảng Dạy Hiệu Quả Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy bài thơ "Qua Đèo Ngang", cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu bài thơ mà còn phát triển kỹ năng phân tích và cảm thụ văn học.

3.1. Sử Dụng Phương Pháp Thảo Luận Nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm giúp học sinh trao đổi ý kiến và cảm nhận về bài thơ. Qua đó, học sinh có thể học hỏi lẫn nhau và phát triển tư duy phản biện. Việc này cũng giúp tạo ra không khí học tập tích cực và hứng thú hơn.

3.2. Kết Hợp Giữa Lý Thuyết Và Thực Hành

Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong giảng dạy sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức. Việc tổ chức các hoạt động thực tế như đi thực địa, tham quan các địa điểm liên quan đến bài thơ sẽ giúp học sinh có cái nhìn sinh động hơn về tác phẩm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Dạy Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy vào thực tiễn sẽ giúp nâng cao chất lượng dạy học bài thơ "Qua Đèo Ngang". Các kết quả nghiên cứu cho thấy, khi áp dụng các phương pháp này, học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc cảm nhận và phân tích tác phẩm.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Thực Tiễn

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, khi áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, học sinh có sự tiến bộ rõ rệt trong việc hiểu và cảm nhận bài thơ. Điều này chứng tỏ rằng việc đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết và hiệu quả.

4.2. Phản Hồi Từ Học Sinh

Phản hồi từ học sinh cho thấy họ cảm thấy hứng thú hơn với môn văn học khi được học theo phương pháp mới. Điều này cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại không chỉ giúp học sinh hiểu bài thơ mà còn tạo ra niềm đam mê với văn học.

V. Kết Luận Về Phương Pháp Dạy Bài Thơ Qua Đèo Ngang

Việc dạy bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan cần được thực hiện một cách khoa học và nghệ thuật. Các phương pháp giảng dạy hiện đại sẽ giúp học sinh tiếp cận và cảm nhận tác phẩm một cách sâu sắc hơn. Từ đó, bồi dưỡng tình yêu văn học cho thế hệ trẻ.

5.1. Tương Lai Của Việc Dạy Văn

Tương lai của việc dạy văn cần phải tiếp tục đổi mới và sáng tạo. Việc áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại sẽ giúp học sinh yêu thích môn học hơn và phát triển kỹ năng cảm thụ văn học.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Tiến

Cần có các giải pháp cải tiến trong việc dạy học văn học, đặc biệt là các tác phẩm cổ điển như "Qua Đèo Ngang". Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dạy học mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học bài thơ qua đèo ngang của bà huyện thanh quan theo hướng khai thác thi pháp tác giả và thi pháp tác phẩm

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu văn học dân gian thường bắt đầu câu chuyện theo trình tự tự nhiên, nhân quả. Văn học hiện đại có thể bắt đầu từ bất kỳ điểm nhìn nào theo ý đồ của tác giả. Sau khi xác định điểm nhìn thì văn bản diễn ra theo ngôi thứ thích hợp với giọng điệu thân mật hay nghiêm trang tùy quan hệ của người kể với nhân vật. Trong thơ trữ tình điểm nhìn còn tuân theo nguyên tắc âm nhạc.

Hình thức kết cấu văn học rất đa dạng và cũng phụ thuộc vào thể loại, đặc biệt với thơ luật cần phải tuân theo kết cấu định sẵn. - Chất thơ trong thơ trữ tình 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà phê bình Trung Quốc đời Thanh là Diệp Tiếp trong sách Nguyên Thi có nói: “Cái lí có thể nói, ai cũng nói được, đâu cần nhà thơ nói lên. Cái việc có thể chứng kiến, ai cũng kể lại được, đâu cần nhà thơ kể lại. Phải có những cái lí không thể nói, có những việc không thể kể, khi gặp thì chỉ hiểu ngầm qua hình dáng có ý nghĩa, mà lí và việc cũng đã tường như thế.” Đó chính là chất thơ của đời sống.

Trong tác phẩm thơ chất thơ là một điểm đặc biệt. Chất thơ tạo nên nét khác biệt và độc đáo của thơ mà không có một môn nghệ thuật nào có thể có được. Những sự việc của cuộc sống không phải được viết lại trong thơ mà qua những sự việc, hiện tượng của đời sống để nói những suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, thái độ của mình. Nhà thơ Đỗ Phủ viết về cảnh gió thu tàn phá những ngôi nhà của dân nghèo.

Cảnh gió rét ấy ở đâu cũng thế song khi đưa vào thơ tác giả muốn thể hiện nỗi cảm thông với những người dân nghèo và ước mơ nhân văn của nhà thơ. Người xưa cũng thường nói chất thơ nằm ở ngoài lời. Thơ không nói những điều nó viết ra mà nói những chỗ trống, chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời. Ví như bài Bánh trôi nước không phải tác giả miêu tả chiếc bánh trôi đẹp như thế nào, nấu ra sao mà muốn ca ngợi phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội bất công.

Nếu đem thuật lại Hồ Xuân Hương kể gì thì không còn là chất thơ. Ý nghĩa của bài thơ là điều cảm được qua lời thơ nhưng không phải mặt ư nghĩa của câu thơ. Nhà thơ Tố Hữu cũng nói: “Thơ là cái đó sự im lặng giữa các từ người đọc có thể cảm nhận theo cách riêng của mình tạo nên sự đa dạng và tinh tế của tác phẩm”. Thơ là cái khó nắm bắt vừa mơ vừa thực, khó xác định.Những hình ảnh muôn màu hiện ra trên trang giấy trắng sinh động qua cảm nhận của tâm hồn mỗi con người.

Màu sắc đa dạng và sinh động hiện ra trên trang giấy trên trang giấy trắng qua cảm nhận của mỗi tâm hồn. Đó là điều kì diệu của ngôn ngữ và sự phong phú của tâm hồn. Trong thõ có ý nghĩa mặt chữ, ý nghĩa của logic, ý nghĩa trong hình tượng, nhưng đó không phải là cái ý nghĩa có tính thơ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cái ý nghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh do chính lời và hình ảnh gợi lên.

Nhà Mỹ học Pháp viết: “Cái giá trị ý niệm hàng đầu, cơ bản nhất của thơ là cái ý nghĩa mang tính thơ. Bởi vì ý nghĩa mang tính thơ gần gũi nhất với cội nguồn sáng tạo- một thứ ý nghĩa trong bầu trời đêm của trực giác phi khái niệm biểu thị trực tiếp vào ý thức chủ quan của nhà thơ.” - Chi tiết nghệ thuật Mỗi hình tượng nghệ thuật được tạo nên bời nhiều chi tiết khác nhau. Những đối tượng miêu tả như, cảnh vật, môi trường, con người…tạo nên bằng hình dáng đường nét, âm thanh mà tác giả chọn lọc cho những hình ảnh đó cho là cần thiết, quan trọng nhất, loại bỏ những cái rườm rà thể hiện ý định của tác giả. Chi tiết là những bộ phận nhỏ tự nó đứng riêng thì không có ý nghĩa, nhưng khi kết hợp lại nó biểu thị ý nghĩa của tác phẩm, tạo nên giá trị của tác phẩm đối với đời sống tinh thần của con người.

Chi tiết chính là điểm nhìn, tư thế, thể hiện quan niệm nghệ thuật, quan niệm về con người, thể hiện tâm hồn của tác giả đối với đối tượng đó. Thi pháp học hiện đại khám phá tính quan niệm qua hệ thống các chi tiết nghệ thuật của thế giới nghệ thuật. Qua nhiều chi tiết cùng loại hoặc lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà thơ, ta thấy nó có một lớp ý nghĩa nào đó, một phong cách riêng của tác giả, thấy sự quan tâm và rung cảm trước sự vật, hiện tượng đó của người viết.Chi tiết nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố như màu sắc, âm thanh, đường nét, chất liệu,.tạo thành các thế giới nghệ thuật khác nhau về chất. Chi tiết nghệ thuật biểu hiện phẩm chất thẩm mỹ của thế giới nghệ thuật và cũng thể hiện niềm rung cảm của tác giả với thiên nhiên và cuộc đời.

- Biểu tượng, ý tượng trong thơ Thơ biểu hiện bằng biểu tượng mang nghĩa, các ý tượng hình ảnh có ngụ ý. Hegel nói: “Thơ cũng như nhạc đều xây dựng trên nguyên tắc dùng nội cảm để tri giác nội cảm, tức là một nguyên tắc không có trong kiến trúc, trong điêu khắc và 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội họa. Hơn thế nữa thơ còn mở rộng đến mức độ dùng các biểu tượng, các trực giác và các tình cảm bên trong đặng dựng lên một thế giới khách quan”. Như vậy, thơ là nghệ thuật của biểu tượng tạo nên giá trị họa trong thơ.

Đặc điểm của biểu tượng trong thơ là thường gián đoạn không liên tục, có nhiều khoảng trống, khoảng trắng như trong tranh thủy mặc buộc người đọc phải suy đoán, phải liên tưởng, tưởng tượng không có một khuôn mẫu cố định. Biểu tượng cho phép thơ không phải kể lể, không chạy theo tính liên tục bề ngoài mà người đọc có thể hiểu tác phẩm qua những hình ảnh nổi bật nhất, cô đọng nhất, giàu hàm ý nhất của đời sống để thể hiện được ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm. Trong thơ cổ biểu tượng thường là: nhật, nguyệt, tùng, cúc, trúc, mai…Mỗi nhà thơ cũng có những biểu tượng được lặp lại nhưng có những biểu tượng không lặp lại. Cùng một biểu tượng nhưng có thể ý nghĩa, cảm xúc mà biểu tượng mang lại khác nhau.

Các biểu tượng trong thơ nảy sinh nhờ sức liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo mạnh mẽ của nhà thơ và người đọc có thể cảm nhận được cảm xúc của nhà thơ qua biểu tượng của tác phẩm. Thi pháp thơ Nôm Đường luật Trung Đại Văn học Trung Đại Việt Nam tình từ thế ký X đến hết thế kỷ XIX đây là giai đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc. Văn học thời kỳ này phát triển rực rỡ hình thành các truyền thống lớn về tư tưởng và nghệ thuật. Trong chương trình Ngữ Văn THCS, Văn học Trung Ðại chiếm một phần không nhỏ.

Việc dạy học Văn học Trung Ðại để học sinh có thể cảm thụ được cái hay, cái đẹp của một tác phẩm trung đại không đễ dàng. Chính vì vậy để hiêu tác phẩm văn học trung đại chúng ta phải tiếp cận từ thi pháp văn học trung đại. Văn hoc Trung Ðại có thi pháp riêng của nó. Việc nắm vững những đặc điểm của văn học trung đại sẽ giúp chúng ta chiếm lĩnh tác phẩm mà còn giúp ta sáng tỏ được đặc điểm của văn học cổ đại và hiện đại trong thế so sánh.

18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tính ước lệ Văn học mọi thời kỳ đều sử dụng tính ước lệ nhưng chỉ có thời kỳ trung đaị ước lệ mới được sử dụng một cách phổ biến, phức tạp và nghiêm ngặt nên được coi là một đặc trưng về mặt thi pháp. Ước lệ là một quy ước của cộng đồng người. Họ đặt ra những biểu hiện riêng để thay thế cho các sự vật, hiên tượng trong cuộc sống thực. Trong nghệ thuật đó là quy ước chung của nghệ sĩ và độc giả.

Đó là khuynh hướng lý tưởng hóa để tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật được cách điệu hóa, thiên nhiên chính là chuẩn mực để đánh giá cái đẹp. Vì vậy, nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con người tôn vinh vẻ đẹp của con người. Con người đẹp phải là người: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, gót sen…Người đẹp thì phải đẹp đến nỗi chim sa cá lặn, nghiêng nước nghiêng thành.

Cây cối trong văn chương cũng phải sang trọng như mai, lan, cúc, tùng, liễu…bởi chúng là biểu tượng để chỉ những phẩm chất, cốt cách, khí tiết của người quân tử, của bậc trượng phu, nói đến người thì ngư, tiều, canh, mục, nói đến vật thì thường nhắc đến những con vật: yến oanh, loan phượng, uyên ương.2Tính quy phạm Quan niệm của người trung đại về thời gian là tuần hoàn, vì thế người ta hết sức coi trọng qua khứ, coi trọng sự khởi đầu, coi trọng người già. Theo quan niệm của họ thời gian đi hết một vòng lại quay về gốc. Chuẩn mực của cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá khứ. Chính vì quan niệm đó nên trong văn học trung đại thường xuyên xuất hiện những điển cố, điển tích.Văn chương thể hiện tinh thần sung cổ, suy tôn Thánh hiền tạo nên tính quy phạm trong văn học.

Việc sử dụng những điển tích trên cũng nhằm mục đích lấy xưa để nói nay, dùng người cũ việc cũ để nói việc mới, chuyện nay. Khi sáng tác các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt truyện để tạo một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu có sẵn thành công thức.3 Tính phi ngã 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thời phong kiến ý thức cá nhân chưa phát triển. Con người luôn đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp.

Trong xã hội ấy người có văn hóa là người biết thu nhỏ biết hạ thấp cái tôi cá nhân. Chính vì thế văn học có tính phi ngã không có dấu ấn cá nhân. Nhà văn hiếm khi xưng “tôi”, “ta”, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Các nhà văn nhà thơ thường dùng những công thức có sẵn để sáng tác.

Thiên nhiên trong thơ văn trung đại Thiên nhiên là một yếu tố đóng vai trò quan trọng góp phần vào việc thể hiện tư tưởng chủ đề của văn bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phương Pháp Dạy Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan" cung cấp những phương pháp hiệu quả để giảng dạy bài thơ nổi tiếng này, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về nội dung và ý nghĩa của tác phẩm. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong giảng dạy, từ đó khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh. Độc giả sẽ tìm thấy những chiến lược giảng dạy hữu ích, giúp nâng cao khả năng tiếp thu và phân tích văn học của học sinh.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các phương pháp giảng dạy khác, hãy tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ hay sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học giáo dục công dân lớp 8 ở một số trường thcs huyện chiêm hóa tỉnh tuyên quang, nơi bạn có thể tìm hiểu về phương pháp thảo luận nhóm trong giáo dục. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học khám phá chủ đề phương pháp tọa độ trong mặt phẳng hình học 10 ban nâng cao cũng sẽ cung cấp cho bạn những cách tiếp cận mới trong giảng dạy hình học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học quy tắc đếm trong các bài toán tổ hợp và xác suất nhằm phát triển tư duy phê phán cho học sinh lớp 11 sẽ giúp bạn khám phá cách phát triển tư duy phê phán qua các bài toán tổ hợp. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và cải thiện kỹ năng giảng dạy của mình.